|
#1
|
||||
|
||||
|
(Lanhdao.net) - Bên cạnh chiến thắng, lịch sử những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam có ghi lại 3 lần thất bại: thất bại của An Dương Vương trước Triệu Đà; thất bại của Hồ Quý Ly trước nhà Minh, và thất bại của triều Nguyễn trước thực dân Pháp. Dù không có chung bối cảnh lịch sử, nhưng cả 3 thất bại trên đều có chung một nguyên do. Nguyên do ấy xuất phát từ tầng lớp lãnh đạo của cuộc kháng chiến: để mất lòng dân.
![]() Bảo vệ Tổ quốc: phản xạ có điều kiện Một quốc gia nhỏ nằm cạnh một đại cường quốc. Một chiếc cầu nối phương bắc với phương nam. Xét riêng về mặt địa chính trị, vị trí đất nước này đã đủ khiến cho việc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trở thành một trong những thử thách khó tránh khỏi trên hành trình gìn giữ biên cương.Mỗi bước tiến của dân tộc là mỗi bước người dân Việt Nam phải đánh đổi bằng trí tuệ, mồ hôi và sinh mạng. Ngay từ những ngày đầu dựng nước, Việt Nam - khi ấy có tên là Văn Lang - đã phải đối phó với hoạ xâm lăng đến từ đội quân đầy tham vọng của Tần Thuỷ Hoàng (thế kỷ thứ 3 TCN). Trước sức mạnh của quân Tần, người Việt đã trốn vào rừng, ngày ẩn đêm hiện, tiến hành cuộc chiến tranh du kích rộng lớn. Sau hơn 10 năm chiến đấu, tướng chỉ huy của quân giặc là Đồ Thư phải bỏ mạng giữa lúc sĩ khí của chúng đã hao mòn. Cuộc trường kỳ kháng chiến đầu tiên của dân tộc thắng lợi. Chẳng bao lâu sau, (từ 184 đến 179 TCN), người Việt lại phải đối mặt với một cuộc xâm lăng mới. Vì mất cảnh giác, An Dương Vương để giang sơn rơi vào tay Triệu Đà. Cái giá cho bài học đau đớn đó là 1000 năm Bắc thuộc - 1000 năm mà bản sắc và sự tồn tại của dân tộc phải qua thử lửa, xương máu của không ít thế hệ đã đổ xuống để tìm lại tự chủ. Đó cũng là 1000 tinh thần bất khuất của từng người dân Việt được rèn vào trong máu. Năm 938, trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán, kết thúc chuỗi nỗ lực thiên niên kỷ để giành lại độc lập của người Việt. Kỷ nguyên độc lập dân tộc bắt đầu với sự ra đời của nhà Ngô (938-965), Đinh (968-979), tiền Lê (980-1009) và được các triều đại Lý (1010-1225), Trần (1226-1399), Hồ (1400-1407), Lê (1428-1527), Tây Sơn (1788-1801) và Nguyễn (1802-1884) vun đắp và hoàn thiện. Trong khoảng thời gian này, người dân Việt Nam vẫn tiếp tục chiến đấu để tạo nên bao chiến công hiển hách: 2 lần đập tan âm mưu xâm lược của quân Tống (năm 981 và 1076-1077); 3 lần đánh bại đội quân hùng mạnh nổi danh khắp thế giới Mông-Nguyên (1258, 1285 và 1288); đè bẹp và giành lại đất nước từ tay nhà Minh cướp nước (1417-1427) và đẩy lui chớp nhoáng 29 vạn quân Thanh xâm lược (1789). Cách đây chưa lâu, để giành lại độc lập và bảo tồn toàn vẹn lãnh thổ, người dân Việt Nam lại buộc phải chiến đấu với những kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới: thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thiếu thốn đối đầu với đầy đủ, lạc hậu đối đầu với hiện đại, chính nghĩa đối đầu với phi nghĩa, sau "30 năm dân chủ cộng hoà", Việt Nam lại là người chiến thắng. Lịch sử của đất nước này là lịch sử của những cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Chiến đấu vì dân tộc dường như đã trở thành một phản xạ có điều kiện trong mỗi người dân Việt Nam. Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, và chẳng biết từ bao giờ, người Việt Nam đã tự đúc kết cho mình một “cẩm nang” chống ngoại xâm. "Cẩm nang" chống ngoại xâm Làm thế nào để không bị quân thù đè bẹp? Làm thế nào để nắm quyền chủ động? Làm thế nào để xoay chuyển tình thế? Đó là vấn đề tưởng chừng như không thể trong cuộc đối đầu giữa một quốc gia nhỏ bé và những kẻ xâm lược khổng lồ. Tuy thế, lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng dù kẻ địch có đến từ đâu, lớn mạnh cỡ nào, ta vẫn có cách để tiêu diệt chúng. Trong binh pháp của người Việt, kỹ thuật lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh đã trở thành nghệ thuật: Những đội quân xâm lược có tiềm lực mạnh luôn muốn đánh nhanh, thắng nhanh vì chúng chắc rằng nếu cự lại sức mạnh của chúng, chúng ta sẽ không thể tồn tại được lâu. Thế nên, thay vì chọn cách đối đầu ngay như ý muốn của quân giặc, người Việt Nam tìm cách làm suy giảm sức mạnh địch. Nhưng bằng cách nào? Bằng một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, bằng sức mạnh thoắt ẩn thoắt hiện và dường như ở đâu cũng có của các lực lượng tại chỗ - mà sau này chúng ta gọi bằng cái tên du kích. Chiến tranh du kích đã xuất hiện ngay trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc đầu tiên của dân tộc - kháng chiến chống quân Tần xâm lược của nhà nước Văng Lang. Theo sách Hoài Nam Tử thì người Việt đã trốn vào rừng và tiến hành chiến tranh du kích. Sau hơn 10 năm không thể tiêu diệt được ta, quân Tần rệu rã, mất hết ý chí và thất bại. Sau này, những chiến thắng lớn của dân tộc đều mang dấu ấn của việc huy động sức mạnh toàn dân trong cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp. Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông - đội quân hung bạo, đánh bại một loạt các quốc gia từ Á sang Âu, là ba lần người dân Đại Việt cùng nhau thực hiện kế “vườn không nhà trống” (kế thanh dã), cả nước đánh giặc khiến quân Nguyên không những không thể đánh theo lối sở trường của mình mà còn rơi vào tình trạng điêu đứng, tạo điều kiện cho những cái tên Vạn Kiếp, Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng đi vào lịch sử. Sau đó 7 thế kỷ, bài học về chiến tranh nhân dân lại được vận dụng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và chống Mỹ (1954-1975). Tướng Pháp Pellet đã đánh giá về sức mạnh và hiệu quả của loại hình chiến tranh này như sau: “Trong cuộc chiến tranh du kích này, kẻ địch [quân dân Việt Nam] ở khắp nơi – không có mặt trận cố định cũng không có những công trình phòng ngự đặt đúng vị trí mà ở đó chúng ta có thể sử dụng có hiệu quả những phương tiện chiến đấu mạnh và hiện đại để tiêu diệt địch. Mỗi bụi tre, mỗi mái nhà đều có thể che dấu kẻ địch. Như thế sẽ thấy tinh thần của quân đội ta căng thẳng đến chừng nào, vì ở bất cứ đâu, không kể ngày đêm đều phải chống cự với kẻ địch mà ta không thể nắm được”. Chính sức mạnh của nhân dân Việt Nam là điều khiến kẻ thù sợ hãi nhất. Bên cạnh đó, sự chủ động và biết chớp thời cơ cũng là hai thành tố cơ bản tạo nên bất kỳ một chiến thắng nào. Nhìn lại những cuộc chiến tranh yêu nước trong lịch sử dân tộc mới hay, hai bài học này đã được vận dụng một cách rất độc đáo: từ thời Hai Bà Trưng cho tới Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung và gần đây nhất là kháng chiến chống Pháp - Mỹ. Gom sức dân, khơi dòng yêu nước - Vai trò của những nhà lãnh đạo tài ba Nhân dân ta không ngại đánh giặc. Chúng ta có cẩm nang chống ngoại xâm. Nhưng có một yếu tố mà nếu thiếu nó, tất cả những điều nói trên về lòng yêu nước hay sức mạnh dân tộc chỉ là những khái niệm mơ hồ. Đó là sự dẫn dắt của những nhà cầm quân tài ba. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”. Nhưng để biến nguồn sức mạnh này trở thành một mãnh lực xoá sạch bóng quân thù, dân tộc đó phải sản sinh và nuôi dưỡng được những con người có bàn tay “gom”, khơi và hướng đường cho dòng sức mạnh ấy. Nhớ lại thời Hồ (1400-1407), khi quân Minh ùn ùn sang xâm lược, dù đã gắng sức chống chọi nhưng vì chiến đấu đơn độc, không huy động được lòng dân nên Hồ Quý Ly - vị vua đầu tiên và duy nhất của triều Hồ - nhanh chóng thất trận. Đất nước sa vào tay giặc. Một trong những thất bại đáng tiếc nữa là thất bại của triều Nguyễn (1802-1884). Không chỉ nhu nhược, thiếu kiên quyết, các vị vua nhà Nguyễn còn không thấy được sức mạnh tiềm ẩn trong nhân dân. Bị động trước sức tấn công của thực dân Pháp nhưng triều Nguyễn lại làm ngơ trước cuộc chiến đấu của nhân dân, quay sang chủ hoà với địch. Việc làm ấy đã đẩy những đất nước rơi vào cảnh lầm than trong suốt gần một thế kỷ. “Có lật thuyền mới biết sức dân như nước”, nhà quân sự tài trí Nguyễn Trãi của nghĩa quân Lam Sơn (1417-1427) đã đúc kết ra điều ấy. Nhìn lại lịch sử, những thất bại lớn của các triều đại trên đều nằm ở chỗ họ không huy động được nhân tâm, xa rời quần chúng và thiếu tầm lãnh đạo chiến lược. “Trải Đinh, Lý, Trần xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Nhưng hào kiệt đời nào cũng có”. (Nguyễn Trãi, “Cáo bình Ngô”) Tham chiếu lại lịch sử, bắt đầu từ số này, chuyên trang Lanhdao.net sẽ cùng điểm lại đôi điều về nghệ thuật lãnh đạo quân sự của Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung và những vị tướng lỗi lạc của thời đại Hồ Chí Minh. Minh Chi
__________________
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM
|
| Click quảng cáo ủng hộ diễn đàn |
|
#2
|
||||
|
||||
|
(Lanhdao.net) - “Tôi muốn cưỡi gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người”. Triệu Thị Trinh - người con gái khởi binh chống quân Ngô năm 248 đã nói như thế. Bà muốn nối tiếp nghĩa khí và tài trí của Hai Bà Trưng - những nữ tướng có nghệ thuật chỉ huy khiến quân đô hộ Hán khiếp hãi từ 2 thế kỷ trước đó.
![]() Tranh vẽ Hai Bà Trưng cưỡi voi xung trận Năm 184 trước công nguyên, quân đội của Nam Việt Vũ Đế Triệu Đà bắt đầu cuộc chiến xâm lược vương quốc Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Sau nhiều lần thất bại trước sức mạnh và sự phòng thủ kiên cố của quân Âu Lạc, Triệu Đà thu quân, đưa con trai Trọng Thuỷ sang giả dàn hoà. Chủ quan, mất cảnh giác trước địch, chẳng bao lâu sau, Triệu Đà đã tìm ra cách tiêu diệt quân An Dương Vương. Âu Lạc sa vào tay giặc, bắt đầu hơn 1000 năm người Việt phải chịu sự cai trị của các triều đại phương Bắc. Nổ ra gần 200 năm sau sự thất bại của An Dương Vương, khởi nghĩa Mê Linh (40-43) không chỉ trở thành niềm kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam mà dường như đã trở thành một câu chuyện cổ tích về những người phụ nữ, đặc biệt là hai vị thủ lĩnh phong trào: Hai Bà Trưng. Thời thế tạo anh hùng Năm 111 trước công nguyên, nhà Hán tiến chiếm Nam Việt và thay nhà Triệu cai trị Âu Lạc. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi từ đây. Nhà Hán triển khai các kế hoạch đồng hoá dân Việt: xoá bỏ mọi tục lệ, luật pháp của người Việt, bắt dân Việt tuân theo “lễ giáo” phương Bắc; đưa dân Hán sang sống xen kẽ với dân Việt; mở trường học dạy Nho giáo ở Mê Linh, Luy Lâu và Cửu Chân cho con cái các lạc hầu, lạc tướng, quan lang. Bằng những biện pháp ấy, người Hán hi vọng sẽ quy phục được tinh thần người Việt. Đã mất đất nay còn có nguy cơ mất đi cả bản sắc dân tộc, người Việt lo lắng. Nhưng người Hán không ngờ rằng công cuộc Hán hoá của họ đang khơi lên niềm căm giận đặc biệt từ phía những người phụ nữ dân tộc Việt. Ngoài mối thù của một người dân mất nước, sự áp đặt của những gì gọi là "tam tòng, tứ đức" đang khiến họ - những người phụ nữ vốn bao đời nay vẫn được quyền tham gia chuyện làng nước, được chủ động kết hôn, là một trong hai trụ cột của gia đình - nay đứng trước nguy cơ mất đi tiếng nói của chính mình và bị coi như những kẻ tiểu nhân, vô dụng Bởi thế, khắp Giao Chỉ, phụ nữ Việt dựng cờ khởi nghĩa. Hai Bà Trưng - Trưng Trắc, Trưng Nhị - sinh trưởng trong hoàn cảnh ấy. Hai người là con gái lạc tướng đất Mê Linh và Man Thiện phu nhân. Ngay từ nhỏ, hai bà đã được mẹ hướng theo sự nghiệp cứu nước. Được học tập võ nghệ, được tìm hiểu binh thư, học lịch sử lại tận mắt chứng kiến sự bạo ngược của quân đô hộ, lòng yêu nước và ước mong gây dựng lại cơ đồ của các vua Hùng lớn dân lên trong họ. Thời thế đã khiến họ phải chứng tỏ rằng: bản lĩnh của nhi nữ không phải tầm thường. Và cũng chính thời thế đã đặt Hai Bà Trưng vào trung tâm của một cuộc chiến đấu với không ít những nữ chỉ huy tài ba. Dường như họ đang cần một ngọn cờ lãnh đạo để tụ lại thành một sức mạnh duy nhất. Nghệ thuật tụ binh Điểm thành công và vô cùng đặc sắc trong khởi nghĩa Mê Linh, hay nói đúng hơn là tài năng của Hai Bà Trưng, là việc kêu gọi và quy tụ được sự tham gia nhiệt thành của nữ giới: từ những đội quân nữ hàng vạn người, đến những vị nữ tướng tài ba thống lĩnh quân đội mà danh tiếng còn để mãi đến tận sau này. Do vậy, quá trình tụ binh dưới cờ khởi nghĩa Mê Linh không chỉ đơn giản là một cuộc tập hợp lực lượng của các tầng lớp dân chúng, mà còn là sự quy tụ sức mạnh nữ giới. Hầu như tất cả các trung tâm khởi nghĩa nằm dưới sự chỉ đạo của các nữ lưu bấy giờ ở Giao Chỉ đều nhất trí hoạt động đưới sự chỉ huy của Hai Bà Trưng. Từ nghĩa quân Thánh Thiên ở Yên Dũng (Bắc Giang); nghĩa quân Lê Chân ở An Biên (Hải Phòng); nghĩa quân Bát Nàn ở Duyên Hà (Thái Bình); nghĩa quân Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Vũ Bản (Hà Nam) cho đến nghĩa quân của nàng Nội ở Bạch Hạc (Vĩnh Phú) hay nghĩa quân của bà Lê Thi Hoa tận Cửu Chân (Thanh Hoá). Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, giờ đây, hai bà có thêm sự trợ giúp của tài năng, kinh nghiệm và uy tín từ những nữ tướng am tường chiến tranh du kích như Thánh Thiên và có tài tổ chức như Lê Chân. Dưới sự chỉ đạo của Hai Bà Trưng, cuộc tụ binh độc nhất vô nhị giữa các nữ tướng này tạo ra một thế trận khởi nghĩa răng mắc khắp Giao Chỉ. Thánh Thiên chịu trách nhiệm mở rộng lực lượng và lãnh đạo nhân dân Yên Dũng (Bắc Giang); Lê Chân nhận nhiệm vụ phát triển lực lượng và mở rộng khu căn cứ ra toàn khu vực từ Kinh Môn, Đông Triều đến vùng ven biển Đông; Bát Nàn sẽ lập các đội dân binh vùng ven biển Thái Bình; hai chị em Nguyệt Thai, Nguyệt Độ lo tổ chức dân binh trong toàn huyện Vũ Bản; hai cô Quốc Nương và Vĩnh Tuy lãnh trách nhiệm xây dựng lực lượng ở Gia Lâm, Đông Anh; Nàng Nội sẽ lãnh đạo nhân dân khu Bạch Hạc; bà Lê Thị Hoa và các con trai sẽ chỉ huy cuộc khởi nghĩa của nhân dân quận Cửu Chân. Sự hợp nhất giữa các trung tâm khởi nghĩa đã biến cuộc khởi nghĩa Mê Linh từ một cuộc khởi nghĩa cục bộ thành một cuộc khởi nghĩa có phạm vi hoạt động trên toàn Giao Chỉ. Đây chính là thế trận giúp khởi nghĩa Mê Linh giành thắng lợi chỉ sau một tháng khởi binh. Với tài năng, uy tín và đặc biệt là cùng chung ước vọng gây dựng lại cơ đồ dân tộc, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã thuyết phục được gần 40 vị nữ tướng và trên 20 vị nam tướng chủ chốt cùng đứng dưới ngọn cờ khởi nghĩa Mê Linh. Cùng với đó, hàng chục vạn người yêu nước tại các làng xã đã được kết nối lại chờ thời cơ đồng loạt nổi dậy. Họ sẽ là nguồn sức mạnh bổ trợ cho những đội nghĩa binh đang ẩn mình trên khắp các vùng đất Mê Linh, Chu Diên, Yên Dũng, Bắc Ninh, An Biên, Kinh Môn, Duyên Hà, Vũ Bản, Yên Nội và Nga Sơn. Phương pháp "đồng khởi" Khởi nghĩa Mê Linh là một trong những cuộc khởi nghĩa đầu tiên của nhân dân ta chống nạn Bắc thuộc. Điều đó đặt ra thử thách: những lãnh đạo nữ của phong trào phải tự mầy mò, tìm ra một phương pháp tiến hành khởi nghĩa sao cho hiệu quả nhất. Trước hết là việc tự tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ. Dùng kế làm kiêu binh địch để đẩy nhanh thời cơ khởi nghĩa, sau cái chết của Thi Sách - chồng Trưng Trắc và cũng là một trong những người chỉ huy cuộc khởi nghĩa, bai bà quyết định án binh bất động để trấn an địch, khiến chúng thoả mãn với thành quả đàn áp cuộc khởi nghĩa mà chúng nghĩ Thi Sách là kẻ cầm đầu. Mùa xuân năm 40, quân Hán say sưa vui tết, thời cơ đã đến. Trưng Trắc phát lệnh khởi nghĩa: “Một, xin rửa sạch quốc thù Hai, xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng Ba, kẻo oan ức lòng chồng Bốn, xin vẻn vẹn sở công lênh này”. Cuộc khởi nghĩa được tiến hành theo hai bước rõ ràng. - Bước 1: nhân dân khắp nơi đồng loạt nổi dậy phối hợp cùng với nghĩa binh phá tan bộ máy thống trị ở các địa phương; - Bước 2: các cánh quân cùng tiến về Luy Lâu đập tan trung tâm bộ máy cai trị của quân Hán ở Giao Chỉ. Mỗi một vị chỉ huy theo lệnh, hiệu triệu nhân dân trong khu vực vùng nên khởi nghĩa, phối hợp nhịp nhàng với cuộc khởi nghĩa đang đồng loạt nổ ra ở khắp nơi, khiến quân giặc không kịp trở tay. Trưng Trắc và Trưng Nhị chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở Mê Linh; Thánh Thiên lãnh đạo thành công cuộc nổi dậy ở huyện Yên Dũng rồi lan ra các huyện phía bắc; Lê Chân hoàn toàn làm chủ miền ven biển phía đông đến sát Thuận Thành; Bát Nàn tiêu diệt hoàn toàn ách đô hộ ở vùng Duyên Hà ven biển trong khi Nguyệt Thai, Nguyệt Độ đã làm chủ vùng Sơn Nam... Thắng lợi nhanh chóng lan ra cả nước. Sử phong kiến Đông Hán chép về cuộc khởi nghĩa Mê Linh như sau: “Tất cả những người Man, người Lý (chỉ chung các thành phần dân tộc Việt Nam thời cổ) ở 4 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh-Nghệ-Tĩnh), Nhật Nam (Quảng Bình-Quảng Nam), Hợp Phố (Quảng Đông) đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng”. Nghĩa binh kết hợp với sức mạnh của sự đoàn kết rộng khắp đã nhanh chóng quét sạch bộ máy thống trị của nhà Hán. Sử Đông Hán thú nhận: quan lại Đông Hán ở Giao Chỉ hoảng sợ, bỏ hết của cải, giấy tờ, ấn tín, chạy tháo thân về nước. Còn “Đại Nam quốc sử diễn ca” ghi lại khí thế của một trong những đội nghĩa binh Hai Bà Trưng: “Ngàn tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên”. Kết thúc bước một, từ phía tây, đạo quân của Trưng Trắc, Trưng Nhị, tiến đến Luy Lâu. Cùng lúc đó, đạo quân phía bắc của tướng tiên phong Thánh Thiên, đạo quân phía đông của tướng tiên phong Lê Chân và đạo quân phía nam của các tướng tiên phong Bát Nàn, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ cũng nhằm hướng Luy Lâu thẳng tiến. 4 cánh quân từ 4 hướng, xiết chặt dần, tạo thành thế gọng kìm kẹp chặt trung tâm đầu não của bọn thống trị. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc lên ngôi vua ở tuổi 26, lấy hiệu là Trưng Nữ Vương, đặt đô ở đất Mê Linh. Nghĩa khí người thủ lĩnh 3 năm sau, quân Hán được chuẩn bị kĩ càng mới sang đàn án cuộc khởi nghĩa. Dù đã xếp trận, bố phòng nghiêm ngặt, nhưng quân của Trưng Nữ Vương vẫn không thể cự lại được sức mạnh của quân Hán. Sau trận thua ở Lãng Bạc, bị quân địch đuổi riết, bà chạy về sông Hát trầm mình tự vẫn. Là một trong những cuộc khởi nghĩa đầu tiên của dân tộc chống nạn Bắc thuộc, dù không bảo vệ được thành quả của mình nhưng thắng lợi ban đầu cũng như vị trí tiên phong của khởi nghĩa Mê Linh đã để lại nhiều bài học cho các cuộc khởi nghĩa sau này, đặc biệt là những bài học về chuẩn bị khởi nghĩa và tiến hành khởi nghĩa. Ngoài những lẽ đó, sự tham gia sâu rộng của nữ giới, đặc biệt trong các vị trí cấp cao dưới quyền tổng chỉ huy của Hai Bà Trưng đã khiến khởi nghĩa Mê Linh trở thành một sự kiện lịch sử vô cùng đặc biệt. Ở đó, hình tượng những người phụ nữ tài năng, mưu trí, thao lược, bất khuất và yêu quê hương tổ quốc mình đã trở nên bất tử. Minh Chi
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???
|
|
#3
|
||||
|
||||
|
(Lanhdao.net) - Trong lịch sử Việt Nam có một cuộc kháng chiến chống quân xâm lược rất đặc biệt. Nó bắt đầu trước cả khi quân giặc chạm bàn chân vào lãnh thổ nước ta. Cuộc kháng chiến này được bắt đầu bằng câu nói: "Ngồi im đợi giặc chi bằng đem quân đi trước để chặn thế mạnh của giặc".
![]() "Sông núi nước Nam vua Nam ở ..." Gần 900 năm sau khởi nghĩa Mê Linh của Hai Bà Trưng (40-43), Việt Nam mới thực sự trở thành một quốc gia độc lập. Từ đây, song song với dựng nước, giữ nước trở thành một nhiệm vụ có tính quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển tổ quốc của các triều đại Ngô (938- 965), Đinh (968-979), tiền Lê (980-1009), năm 1010 nhà Lý được thành lập, khởi đầu một thời kỳ thịnh vượng của dân tộc. Là võ tướng của 3 đời vua Lý (Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông), Lý Thường Kiệt là người có chí học hành, hiểu biết sâu sắc, am tường võ học và quân sự. Bởi thế, không chỉ là một trong những trụ cột trong triều, ông chính là tổng chỉ huy trưởng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1076-1077) của quân dân nhà Lý. Tấn công chớp nhoáng rồi chủ động quay về lập phòng tuyến nghênh địch, mỗi bước táo bạo và chắc chắn của ông trong cuộc kháng chiến, sau này, đều trở thành bài học lịch sử sống động về nghệ thuật chỉ huy quân sự nói chung, nghệ thuật phòng thủ nói riêng. Phòng thủ bằng tấn công Trước khi dấy binh xâm lược Đại Việt - tên nước Việt Nam thời ấy - vào năm 1076-1077, năm 981, nhà Tống đã từng đem quân hòng tiến chiếm mảnh đất này. Nhưng âm mưu đó đã bị dừng lại giữa chừng sau khi Lê Hoàn - Lê Đại Hành khuất phục quân Tống trên sông Bạch Đằng. Năm 1075, lợi dụng việc vua Lê Thánh Tông mới băng hà chưa bao lâu, hoàng thái tử Càn Đức - vua Lý Nhân Tông - còn bé, Tống Thần Tông và tể tướng Vương An Thạch quyết định chuẩn bị để hoàn tất cuộc xâm lược chưa thành năm 981. Binh pháp vẫn có câu, cách phòng thủ tốt nhất là tấn công. Nhìn thấy kế hoạch xâm lược của quân Tống, Lý Thường Kiệt, đã nghĩ ngay đến biện pháp phòng thủ ấy. Ông tâu với vua Lý Nhân Tông: "Ngồi im đợi giặc chi bằng đem quân đi trước để chặn thế mạnh của giặc". Một câu hỏi đặt ra là, tại sao Lý Thường Kiệt có thể nghĩ đến một giải pháp phiêu lưu như vậy? Vì, so với Tống, rõ ràng, nước ta là nước nhỏ. Thế nên, cần phải nói rõ nguyên do góp phần củng cố sự lựa chọn của Lý Thường Kiệt. Nội tình nước Tống khi ấy không ổn định. Cương giới bị một số nước lân bang uy hiếp, triều đình thì chia rẽ sau những cải cách mạnh tay của vị tể tướng trẻ Vương An Thạch. Chính điều đó là một trong những lý do thuyết phục Lý Thường Kiệt rằng sự chỉ đạo của triều đình Tống dành cho kế hoạch chuẩn bị này thiếu sự tập trung và quyết đoán. Đó là cơ sở, để quân ta có thể tiến hành một cuộc tấn công chớp nhoáng dằn mặt quân địch. Sau khi phân tích, Lý Thường Kiệt cho rằng quân Tống có thể đi vào nước ta theo hai đường, trong đó, nhánh đường bộ có thể lấy châu Ung (Nam Ninh - Quảng Tây), còn nhánh đường thuỷ có thể lấy châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông) làm cứ điểm tập kết binh, lương. Vì vậy, mục tiêu tấn công mà vị tướng này chuẩn bị nhắm tới là ba thành trên với nhiệm: đốt phá kho lương và tiêu diệt sinh lực địch. Cuộc tiến công "tiên phát chế nhân" của Lý Thường Kiệt diễn ra vào tháng 10-1075. Ông và các tù trưởng Tông Đản, Thân Cảnh Phúc chỉ huy 10 vạn quân, chia làm 2 đạo thuỷ bộ bí mật tiến vào đất Tống. Bí mật và bất ngờ, đội quân thuỷ do Lý Thường Kiệt đốc lãnh đã nhanh chóng hạ được hai thành châu Khâm và châu Liêm. Từ châu Liêm, ông đưa quân sang châu Ung, hợp với cánh quân bộ tiêu diệt thành châu Ung - mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất của cuộc hành quân. Thành châu Ung bị hạ sau 42 ngày vây hãm. Lý Thường Kiệt cho quân huỷ hết các kho tàng và lương thực của giặc rồi nhanh chóng thu quân về nước. Từ một kẻ chủ động tiến hành xâm lược, quân Tống bỗng nhiên bị đẩy vào tình thế thất trận ngay từ khi chuẩn bị kéo quân. Chiến thắng áp đảo trong cuộc hành quân chế địch của Lý Thường Kiệt đã tạo ra nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến cục diện cuộc kháng chiến của nhân dân Đại Việt, hay nói cách khác, cuộc xâm lược của quân Tống. Chiến thắng làm người dân Việt nức lòng, khơi dậy sự tự tin mạnh mẽ của họ vào chiến thắng cuối cùng của cuộc kháng chiến, buộc địch phải kéo dài thời gian chuẩn bị và đặc biệt đẩy quyền chủ động sang tay quân dân nhà Lý. Không những bảo toàn được binh lực, tiêu diệt sinh lực địch, đẩy địch vào tình thế bị động, cuộc tấn công phủ đầu của Lý Thường Kiệt còn nâng cao sĩ khí. Nói như vậy cũng có nghĩa là cuộc tấn công đã đạt được nhiều mục đích hơn cả một cuộc phòng thủ thông thường. Thế mới biết cũng có cách tự vệ đầy sáng tạo và chủ động như vậy. Cho quân lui về nước, nắm thế chủ động trong tay, Lý Thường Kiệt bắt tay vào triển khai một thế trận mới. Ông cho chuẩn bị binh lực, phòng bị và thiết lập phòng tuyến sẵn sàng nghênh địch. Tấn công bằng phòng thủ Sau sự thất thủ chóng vánh của các thành Ung châu, Khâm châu và Liêm châu, vua quan nhà Tống vạch lại kế hoạch và chuẩn bị thật kỹ càng cho một trận phục thù. Với mục đích “sau khi bình được Giao Châu (tên Tống gọi Đại Việt), sẽ đặt châu huyện như ở nội địa”, nhà Tống cử Quách Quỳ và Triệu Tiết - hai tướng nhiều kinh nghiệm trận mạc - chỉ huy cuộc tấn công. Có thể nói lần đương đầu thứ hai và cũng là lần đương đầu quyết định này của quân dân Đại Việt với quân Tống sẽ cho thấy rõ một Lý Thường Kiệt bản lĩnh, biết địch biết ta và biết cách khiến cho quân địch trở nên vô dụng. Để toàn tâm tập trung cho cuộc đối đầu với quân Tống ở mặt bắc, triệt tiêu mưu đồ xúi giục Chiêm Thành và Chân Lạp quấy rối nước ta của triều đình nhà Tống, Lý Thường Kiệt đưa quân vào tuần tra, trấn áp khu vực biên giới phía nam Đại Việt. Đoán biết mục tiêu thứ nhất của quân Tống là chiếm phá kinh thành Thăng Long, phá lâu đài, cung điện. Đối với các vua chúa đời xưa, đó là hành động phá nước. Sau đó, địch sẽ nhắm đến lăng tẩm của các vua nhà Lý đặt tại Thiên Phúc, làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Lý Thường Kiệt cho xây dựng một phòng tuyến kiên cố bên bờ nam sông Như Nguyệt – sông Cầu ngày nay. Không chỉ là một hào nước lớn tự nhiên bảo vệ kinh thành Thăng Long và lăng miếu nhà Lý, con sông này án ngữ tất cả các tuyền đường đi từ Quảng Tây tới Thăng Long. Phòng tuyến cản quân địch qua sông của Lý Thường Kiệt được đắp bằng đất cao, vững chắc, có nhiều lớp giậu tre dày đặc, dài khoảng 100 km dọc theo khúc sông từ Đa Phúc đến Phả Lại. Thành đất, luỹ tre nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế bờ nam và cả con sông Nam Định (sông Như Nguyệt) thành một bức tường thành và hào che chở cho cả nước Việt. Ngoài ra, trước thành đất và cọc tre dày đặc đó, Lý Thường Kiệt lại cắt đặt thêm thuỷ quân, sắn sàng tiếp chiến với quân địch nếu chúng vượt sông. Vì thế cho nên, chỉ nguyên vượt qua sông cũng là cả một thử thách nhọc nhằn đối với quân địch. Ngoài ra, để chặn bước tiến của thuỷ quân địch Lý Thường Kiệt giao cho Lý Kế Nguyên chỉ huy một đội thuỷ quân đợi sẵn ở Đông Kênh (dải nước ven biển giữa đất liền và các hải đảo vùng biển Đông Bắc nước ta) - đường tiến vào cửa Bạch Đằng. Dễ dàng nhận thấy phòng tuyến sông Như Nguyệt là xương sống trong trân tuyến nghênh địch của Lý Thường Kiệt. Dễ dàng nhận thấy, thuỷ binh sẽ là lực lượng nòng cốt triển khai thế trận ấy. Ngoài sự đắc địa của khúc sông Như Nguyệt, chắc chắn thế trận thuỷ binh của vị tướng 58 tuổi này xuất phát từ một thực tế mà ông biết rõ ràng rằng, không giỏi thuỷ chiến là một nhược điểm trầm trọng của quân Tống. Vậy là, với thế trận vững chắc ấy, quân dân nhà Lý chỉ còn chờ giặc đến. Buộc giặc ứng chiến bằng sở đoản Cuối năm 1076, 10 vạn bộ binh tinh nhuệ, 1 vạn ngựa chiến cùng 20 vạn dân phu do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy ồ ạt tiến vào nước ta. Dụ dỗ được một số đội quân của các tộc trưởng khiến quân Tống dễ dàng vượt qua khu vực biên giới tiến sâu nội địa Đại Việt. Tuy nhiên, sự suôn sẻ của quân Tống kết thúc khi chúng đến bờ bắc sông Như Nguyệt. Để tiến thêm và đánh những đòn chí tử vào đại quân nhà Lý rồi chiếm kinh thành Thăng Long, quân của tướng Quách Quỳ phải vượt qua khúc sông và phòng tuyến Như Nguyệt vô cùng kiên cố. Quân Tống lúng túng. Bản thân chúng không quen với thuỷ trận. Bình thường, quân Tống không có sẵn thuỷ binh hay các chiến thuyền. Lúc cần đến, nhà Tống mới cho chế tạo thuyền mành và chiêu nạp hoặc cưỡng bách dân chài tòng quân. Và điều quan trọng lúc này, đội thuỷ quân thiếu chuyên nghiệp của quân Tống đang “mắc cạn” tại Đông Kênh vì bị quân của Lý Kế Nguyên chặn đánh thua đến hơn 10 trận và không thể tiến sâu thêm. Sự bất lực của thuỷ quân Tống vô hình chung đã khiến cuộc tiến công của Quách Quỳ lao đao. Hạ trại trên bờ bắc sông Như Nguyệt mà mãi thuỷ quân chưa đến, Quách Quỳ quyết định cho quân vượt sông. Nhưng cả hai lần vượt sông không những đều thất bại mà còn bị tổn thất nặng nề về người vì gặp phải sự chống trả ác liệt của quân Lý. Sau nhiều lần cố sức vượt sông nhưng thất bại ấy, Quách Quỳ thất vọng ra lệnh: “Ai bàn đánh sẽ chém” và từ thế tiến công chuyển sang thế phòng ngự. Quân sĩ Tống vì thế mà ngày càng nhụt nhuệ khí, lại cộng thêm với khí hậu phương nam vốn không hợp với người phương bắc nên chết dần chết mòn. Nắm thời cơ đó, cuối mùa xuân năm 1077, Lý Thường Kiệt mở cuộc tấn công lớn vào trận tuyến của địch. Đang đêm quân Lý lặng lẽ vượt sông Như Nguyệt, bất ngờ đánh thẳng vào các doanh trại giặc. Quân Tống thua to, “mười phần chết năm sáu”. Chúng lâm vào tình thế hết sức khó khăn tuyệt vọng. Chủ động giữ hoà bình, bảo vệ quyền dân tộc Cũng giống như việc lui binh sau khi đánh phủ đầu quân Tống, đứng trên thế của người chiến thắng, Lý Thường Kiệt chủ động đề xuất giảng hoà, kết thúc chiến tranh. Quân Tống chấp nhận, rút về nước và không còn có ý định tiến chiếm Đại Việt thêm lần nào nữa.. Hiện thực hoá sống động và tài tình một loại nghệ thuật phòng thủ đầy tính sáng tạo và chủ động, tận dụng và khoét sâu nhược điểm của địch, đẩy địch vào tình thế buộc phải lựa chọn giải pháp của phía mình, đó chính là bãn lĩnh và phong cách chỉ huy của Lý Thường Kiệt. Một bãn lĩnh mà những lời thơ hào sảng trong "Nam quốc sơn hà" mãi còn ghi: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Minh Chi
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???
|
|
#4
|
||||
|
||||
|
(Lanhdao.net) - Nếu như Lý Thường Kiệt chọn công để lấn át khí thế quân thù, thì Trần Hưng Đạo lại làm ngược lại. Ông chọn cách rút lui để lật ngược tình thế. Chủ động tránh sức mạnh địch, kéo địch vào trận tuyến chiến tranh toàn dân, với chiến lược ấy, quân dân nhà Trần đã không chỉ một lần chiến thắng quân Nguyên-Mông - đội quân hùng mạnh bậc nhất một thời của thế giới.
![]() Tượng tưởng niệm Trần Hưng Đạo tại Nam Định Đầu thế kỷ thứ 13, quốc gia của người Mông Cổ được hình thành ở Trung Á. Sau đó không bao lâu, khắp nơi trên lục địa Á Âu đều có vết chân ngựa của họ. Bằng thứ sức mạnh ào ạt của kỵ binh, những đội quân Mông Cổ trở thành cơn ác mộng của bất cứ quốc gia nào trở thành mục tiêu xâm lược của họ. Năm 1257, người Mông Cổ triển khai kế hoạch xâm lược Nam Tống. Với ý định tạo ra một gọng kìm nhanh chóng tiêu diệt vương quốc này, Mông Cổ lập kế hoạch chớp nhoáng tiến chiếm Đại Việt ở phía nam. Cuối năm 1257, đầu năm 1258, dưới sự lãnh đạo của triều đình nhà Trần (1226-1399), nhân dân Đại Việt sôi nổi đoàn kết chống giặc. Và không giống nhiều cuộc chiến trước, người Mông Cổ thất bại. Trong lịch sử Việt Nam, đó là cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần thứ nhất. Cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba của nhân dân Đại Việt diễn ra vào các năm 1285 và 1288. Dường như càng chiến đấu càng bản lĩnh, Đại Việt đánh bại quân Mông-Nguyên lần thứ hai rồi lần thứ ba. Mãi về sau này, dù luôn được nhắc đến như những chiến thắng kiểu mẫu của chiến tranh nhân dân trong thời kỳ phong kiến nhưng cách xoay chuyển tình thế mà Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần (hay thường được biết đến là Trần Hưng Đạo) - tổng chỉ huy của cuộc kháng chiến, tạo ra lại là một dấu ấn tôn vinh tài năng cá nhân. Bởi thế, cùng với những cuộc kháng chiến của nhà Trần, cái tên Trần Hưng Đạo đã trở thành nột niềm tự hào trong lịch sử Việt Nam. Trước thế giặc hùng mạnh... Sau lần xâm lược thất bại ở Đại Việt năm 1258, quân Nguyên không dám khinh suất. Trong các đợt xâm lược lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), vua Nguyên là Hốt Tất Liệt phái đi những đạo quân đông gấp cả chục lần so với lần đầu và lần sau chuẩn bị chu đáo hơn lần trước (lần thứ 2, quân Nguyên có tới 50 vận quân, lần thứ 3 quân Nguyên có 30 vạn quân, trong đó có cả thuỷ binh và chưa tính đội quân chở lương). Không khó để hình dung về sức mạnh của quân Mông-Nguyên, khi đến thời điểm của cuộc xâm lược Đại Việt lần hai, lãnh thổ của họ không những bao trùm gần hết châu Á mà đã lấn nhiều sang châu Âu. Uy thế vô cùng mạnh mẽ. Thế nên, tướng giặc Ô Mã Nhi đã thẳng thừng đe doạ quan quân nhà Trần rằng: "Chỉ trong chốc lát, núi sông (các ngươi) sẽ thành đất bằng, vua tôi (các ngươi) sẽ ra cỏ mục". Địch mong muốn dùng sức mạnh ào ạt của kị binh, nhanh chóng khiến quân ta khiếp đảm, tan tác. Vào những thời khắc đầu tiên của cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên xâm lược lần hai, sức mạnh ấy hiện rõ. Những cuộc tấn công chặn địch đầu tiên do Trần Hưng Đạo chỉ huy bị bẻ gãy nhanh chóng. Lùi... để đào sâu nhược điểm của địch Trong “Binh thư yếu lược” - soạn cho tướng sỹ học, Trần Hưng Đạo viết: “Người giỏi thắng không cần thắng nhiều lần, mà cần toàn thắng, đảm bảo thắng”. Điều đó đồng nghĩa với việc làm cách nào để có được chiến thắng cuối cùng mới là điều quan trọng nhất. Thế nên, cuộc kháng chiến quân Nguyên-Mông - đội quân hùng mạnh bậc nhất thế giới thời trung đại - của quân dân nhà Trần, dưới sự chỉ đạo của ông, được tiến hành theo một phương thức rất đặc biệt. Ông nhanh chóng thay đổi chiến lược: chuyển từ trực tiếp đối đầu với khí thế hung hãn của quân Nguyên sang lui binh. Hạ lệnh cho tất cả các cánh quân rút lui, ông cùng với hai vua Trần thu quân về Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương). Giặc truy kích đến Vạn Kiếp, Trần Hưng Đạo lại đưa quân về Thăng Long. Khi giặc đuổi theo đến Thăng Long, ông điều binh rút về Thiên Trường (Nam Định). Cứ thế, quân ta tránh đụng độ với giặc trong nhiều tháng. Một chiến thuật có vẻ bất thường nhưng lại là một trong những điểm đặc sắc nhất thể hiện óc chiến lược sắc sảo của Trần Hưng Đạo. Với sức mạnh áp đảo, quân Nguyên muốn đánh nhanh, thắng nhanh. Bị chúng lấn át ngay trong những đợt tấn công đầu tiên, ông hiểu rằng, đối đầu ngay tức thì không phải là một chiến thuật đắc dụng trong tình huống này. Những đội quân muốn đánh nhanh thắng nhanh thường có một nhược điểm chí tử: đó là công tác hậu cần. Thất bại của quân Mông-Nguyên năm 1258 góp phần chỉ rõ điểm mấu chốt đó. Thế nên, thay vì tiến hành những cuộc tiến công trực diện ít có cơ hội chiến thắng, đánh vào điểm yếu này của địch sẽ là cách tốt nhất lấy đi sức mạnh của chúng. Áp dụng chiến lược lui binh, ông sẽ khiến cho địch không thể đánh theo cách đánh của chúng, nói theo cách khác ông chủ động kéo dài cuộc chiến đấu. Khi đó, thiếu lương thực - nhược điểm ngày một trầm trọng của địch - sẽ tự làm chúng suy yếu. Nắm được chìa khoá tiêu diệt địch, khi quân Nguyên lần thứ ba đưa quân sang xâm lược Đại Việt (1287-1288), ông đã tự tin tâu với vua Trần rằng: "Thế giặc năm nay dễ phá". Và quả nhiên, sau khi tướng Trần Khánh Dư tiêu diệt đội binh lương của quân địch tại Vân Đồn (cuối năm 1287), quân địch lại rơi đúng vào tình huống ngặt nghèo về lương thảo - nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại trong hai lần xâm lược trước. Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, không chỉ giúp bảo toàn lực lượng, chiến thuật lui binh của Trần Hưng Đạo đã đẩy quân địch từ thế chủ động tấn công sang tình trạng dần mất phương hướng vì không tìm được đối tượng chiến đấu và rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Tuy nhiên, nếu coi chiến lược lui binh của Trần Hưng Đạo là khởi đầu của một kế hoạch xoay chuyển tình thế - với các bước: khoét sâu nhược điểm, đẩy giặc vào tình thế khốn đốn và lấy lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường - thì cuộc chiến của nhân dân mỗi nơi giặc đến chính là bước thứ hai. Sự phối hợp ăn ý giữa việc lui binh của quân triều đình với các cuộc tiến công tại chỗ của nhân dân khắp nơi là yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến. Lấy nhân dân làm điểm tựa xoay chuyển tình thế Khi tính toán những bước đi của chiến thuật lui binh, chắc chắn Trần Hưng Đạo có tính đến thời điểm chấm dứt chiến thuật. Dựa trên đích nhắm đến của chiến thuật, có thể thấy đó sẽ phải là lúc tương quan so sánh giữa hai bên nghiêng hẳn về quân Trần, chúng ta kiểm soát được thế trận và nắm chắc phần thắng. Hay nói cách khác, đó là lúc mà người định đoạt kết cục của trận chiến là quân Trần chứ không phải 50 vạn hay 30 vạn quân nguyên. Khi quân giặc không triển khai được thế trận của chúng, phải theo đuổi quân ta chủ lực của ta hết nơi này đến nơi khác, bước một của kế hoạch xoay chuyển tình thế đã thành công. Bước hai được xúc tiến dáo diết với kế "thanh dã" (làm "vườn không nhà trống") và chiến tranh du kích. Khi quân Nguyên tiến vào kinh thành Thăng Long, chúng gặp phải một "sự kháng cự" kỳ lạ, cả kinh thành trống không và khắp nơi dán đầy yết thị kêu gọi nhân dân giết giặc: “Phàm các quận huyện trong nước, hễ có giặc ngoài đến, thì phải liều chết cố đánh; nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, chứ không được hàng”. Sự vắng lặng quá mức của kinh thành khiến quân giặc e sợ. Chúng đưa quân ra đóng ngoài thành. Và có lẽ, khi vạch kế hoạch xâm lược, quân Nguyên Mông chỉ nghĩ rằng những cuộc đụng độ với quân của triều đình nhà Trần là thử thách duy nhất trong cuộc chiến. Chúng không ngờ, chúng còn phải đối phó với những thử thách khác cũng gay go chẳng kém. Cần phải nhắc lại, trước khi cuộc chiến chống xâm lược bắt đầu, nhà Trần đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý trong điện Diên Hồng. Các bô lão đại diện cho nhân dân khắp mọi miền tổ quốc được nhà vua hỏi ý kiến xem liệu thế giặc mạnh như vậy nên hoà hay nên đánh. Và cuộc kháng chiến của nhà Trần đã tạo cho mình một chỗ dựa vô cùng vững chắc khi không ai bảo ai, muôn người như một cùng hô "Đánh". Dường như, đó là câu thần chú kết nối lòng yêu nước trong mỗi người dân thành một loại sức mạnh trải khắp Đại Việt, hiển hiện, ám ảnh mỗi bước đi của quân Nguyên. Cùng với những cuộc rút lui chiến lược của quân triều đình, khắp nơi, dân Việt đẩy mạnh chiến tranh du kích. Đêm đêm, những đội quân cảm tử được lệnh xuất kích đánh vào trại giặc. Bị tấn công ban đêm, bọn giặc vô cùng hoảng sợ, chỉ biết cố thủ, đợi trời sáng mới dám đánh. Chúng phải dựng rào gỗ, tăng thêm tuần tra ở các đồn trại đề phòng quân ta tiến đánh. Ngoài ra, theo lệnh triều đình, nhân dân tất cả những nơi giặc đi qua đều triệt để thực hiện kế thanh dã, cất giấu hết lương thực, không để giặc tự do cướp bóc. Thiếu lương, không triển khai được thế trận, mệt mỏi vì cứ phải đuổi theo quân triều đình Trần, bị quấy rối và đánh phá liên miên, càng kéo dài cuộc chiến tranh, tình trạng của đội quân Nguyên ngày nào còn hùng mạnh càng trở nên bi đát: đói khát, bệnh tật và hoang mang đến tột độ. Cuộc chiến khắp nơi của người dân Đại Việt vắt kiệt dần ý chí chiến đấu của chúng. Đến đây, bước hai - và cũng là bước cuối cùng của kế hoạch xoay chuyển tình thế - hoàn tất. Đây chính là lúc sự hoang mang, dã đám và thoái chí của quân Nguyên phải đối phó với một đội quân nguyên vẹn sức mạnh, đầy khí thế chiến đấu và được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ của triều đình nhà Trần. Chẳng còn điều gì còn có thể tạo ra ưu thế cho quân giặc. Trần Hưng Đạo nói về sức mạnh của chiến tranh nhân dân - thứ mà ông gọi là "thế nhân trận" - như sau: “hình dáng trận như chữ nhân, tiến cũng là chữ nhân, thoái cũng là chứ nhân, họp lại cộng làm một người, tan ra cũng làm một người, một người làm một trận, nghìn muôn người hợp làm một trận, nghìn muôn người động làm một trận”. Nói như vậy cũng đủ để biết, trong suy nghĩ của ông, sức mạnh của nhân dân có thể làm được những điều kỳ diệu gì. Phản kích Tình hình bi đát của quân giặc chính là mốc chấm dứt chiến thuật lui binh của Trần Hưng Đạo. Quân Trần bước vào giai đoạn hai của cuộc kháng chiến - giai đoạn phản kích. Các cuộc phản công được tổ chức gần như đồng loạt và rất mạnh mẽ. Quân và dân nhà Trần đã làm nên không ít chiến thắng oanh liệt: từ những chiến thắng như chiến thắng A Lỗ (gần điểm nối giữa sông Hồng và sông Luộc ngày nay), chiến thắng Tây Kết, chiến thắng Hàm Tử, chiến thắng Chương Dương đến những chiến thắng làm cho quân thù kinh hãi như chiến thắng Bạch Đằng. Bị đáng thua khắp mọi nơi, quân Nguyên nhanh chóng tan rã. Hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo đều chiến thắng ròn rã. Lui binh bảo toàn lực lượng, khoét sâu điểm yếu của địch, dùng sức mạnh nhân dân xoay chuyển tình thế, đẩy giặc vào tình thế khốn đốn và tiêu diệt địch, có thể nói, sự thành công của các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông là chiến thắng điển hình của nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, trong đó, nổi bật lên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp - bước đệm của những cuộc phản kích dồn dập sức mạnh cuối mỗi cuộc kháng chiến. Đây chính là sự gắn kết hoàn hảo của các yếu tố dân, quân, cơ trong bàn tay lãnh đạo của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Minh Chi
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???
|
|
#5
|
||||
|
||||
|
(Lanhdao.net) - Không ngạo nghễ như Caesar - một vị hoàng đế La Mã cổ đại - nhưng Quang Trung hoàng đế có một niềm tin mạnh mẽ vào chiến thắng cuối cùng mà đội quân của ông có thể giành được trước kẻ thù. Đó là những chiến thắng được xây dựng từ nghệ thuật dụng binh thần tốc, táo bạo và nắm chắc thời cơ.
![]() Đài tưởng niệm chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút tại Mỹ Tho, Tiền Giang Thế kỷ 16, Đại Việt chìm trong chia cắt: hết cuộc chiến giữa tập đoàn phong kiến Trịnh-Mạc cho đến cuộc đối đầu triền miên giữa dòng họ Trịnh-Nguyễn. Cuối thế kỷ, cục diện đàng trong đàng ngoài chính thức hình thành và kéo dài mãi từ đó đến gần hai thế kỷ sau. Đất nước lâm nguy, vua chúa cả hai miền chỉ lo vơ vét của cải, ăn chơi hưởng lạc, khiến nhân dân lầm than. Trong bối cảnh ấy, không ít cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Tuy nhiên, chưa cuộc khởi nghĩa nào thắng lợi. Năm 1771, trên vùng Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê, Gia Lai ngày nay), 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa. Được nhân dân ủng hộ, trong vòng 12 năm, từ 1777-1789, nghĩa quân Tây Sơn liên tiếp lập nên những chiến công hiển hách: lật đổ 2 tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn; đánh tan 5 vạn quân Xiêm và đè bẹp 29 vạn quân Thanh Xâm lược. Trong suốt chặng đường chiến đấu, Nguyễn Huệ đã không chỉ chứng tỏ mình là nhà lãnh đạo chính trị xuất sắc mà còn là một nhà cầm quân tài ba. Những gì ông làm, không phải vị tướng nào cũng thực hiện được. Táo bạo - Đòn phủ đầu không ngờ Một trong những điểm nổi bật trong cách dụng binh của Nguyễn Huệ là sự kết hợp giữa tài chỉ huy quân sự và tính cách cá nhân: táo bạo, thần tốc và vô cùng tự tin. Trong cuộc phản kích tiêu diệt quân Xiêm (1785), thay vì chọn khúc sông Mỹ Tho có địa hình thuận lợi cho việc phục kích như đoạn từ Cái Bè đến Bình Chánh Đông, ông lại chọn khúc Rạch Gầm - Xoài Mút - một khúc sông rộng và địa hình trắc trở hơn để đặt phục binh. Còn trong cuộc tiến công từ Phú Xuân ra Thăng Long tiêu diệt 29 vạn quân Thanh (1789), Nguyễn Huệ - khi đó đã là vua Quang Trung - chọn cách tấn công vào Thăng Long từ phía Nam. Đó là khu vực quân Thanh bố phòng cực kỳ kỹ lưỡng. Nhưng đó cũng là hướng quân Thanh chủ quan nhất, vì chúng đinh ninh rằng mình ít có khả năng bị tấn công, thế nên ông đã quyết định ra đòn phủ đầu. Đợt phản kích quân Thanh theo hướng này diễn ra rất chóng vánh: chỉ trong vòng 6 ngày, kể từ khi xuất binh (Đêm 30 tết) đến khi tiêu diệt hoàn toàn quân Thanh trong trận Đống Đa (ngày mồng 5 tết). Biến thần tốc thành sức mạnh Nhưng sự táo bạo chỉ phát huy được sức mạnh của nó nếu cuộc tấn công được triển khai nhanh chóng, thần tốc và bất ngờ. 4 năm sau trận chiến một ngày ở Rạch Gầm - Xoài Mút, đội quân của Nguyễn Huệ lại làm nên một điển hình mẫu mực trong lần truy diệt 29 vạn quân Thanh năm 1789. Nếu không tính đến cuộc hành quân nhanh kỳ lạ và đến giờ vẫn còn gây nhiều tranh cãi của đội quân Tây Sơn từ Phú Xuân ra Bắc, thì chỉ nguyên cuộc phản kích quân Thanh trong vòng 6 ngày Tết Kỷ Dậu 1789 cũng đã là một bài học tuyệt vời trong kho tàng nghệ thuật quân sự. Đêm 30 tết, quân Tây Sơn bí mật vượt sông Gián Khẩu, tiêu diệt gọn địch ở đồn tiền tiêu và cả nhóm quân do thám. Đêm mồng 3 tết, quân của ông bí mật vây đồn Hà Hồi (Thường Tín, Hà Tây). Quân giặc bất ngờ, hoảng sợ hạ khí giới đầu hàng. Mờ sáng 5 tết, trong khi cánh quân Tây Sơn do đích thân Quang Trung chỉ huy bắt đầu tấn công đồn Ngọc Hồi (Thanh Trì, Hà Nội) thì một cánh quân Tây Sơn khác nhắm thẳng vào đồn Đống Đa (Hà Nội). Cùng lúc với hai chiến thắng đó là hàng loạt chiến thắng khác: chiến thắng Đại Áng, chiến thắng Đầm Mực, chiến thắng Nhân Mục, chiến thắng Hạ Yên Quyết. Các cuộc tấn công trên đều diễn ra một cách nhanh chóng và dồn dập đến độ quân Thanh không kịp trở tay. Chúng không còn có thời gian để thông báo, hỗ trợ hay ứng cứu nhau. Cách đánh bất ngờ, thần tốc này luôn là tâm điểm trong binh pháp của ông. Đó là cách để bù đắp sự chênh lệch trước những đội quân đông hơn mình gấp nhiều lần. Hơn thế nữa, không chỉ là người "nhạy cảm" với thời cơ, ông còn biết cách tạo ra thời cơ để tận dụng tối đa thế mạnh của mình. Nắm chắc thời cơ Cuối năm 1788, quân Thanh đưa quân vào nước ta dưới danh nghĩa giúp nhà Lê dẹp loạn. Với sự bảo trợ của vua Lê Chiêu Thống, cánh quân Thanh được nhiều nhân sĩ trung thành với nhà Lê ủng hộ, nhân dân Thăng Long chưa biết nên theo ai: Tây Sơn hay vua Lê. Tình thế hoàn toàn bất lợi cho quân Tây Sơn. Nhận được tin Lê Chiêu Thống "mời giặc vào nhà", Nguyễn Huệ nhanh chóng làm lễ, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Ngay sau đó, ông tập hợp quân đội, Bắc tiến, diệt quân Thanh. Tất cả những chuyện lên ngôi hoàng đế, triệu tập quân đôi, rồi xuất binh chỉ diễn ra trong vòng.. 1 ngày. Với một vị tướng nhiều kinh nghiệm trận mạc, hoàng đế Quang Trung đã nhìn thấy: đây là thời cơ tốt để chinh phục lòng dân và tiêu diệt địch. Sau này, trên đường ra bắc, ông đã dừng lại ở Nghệ An để lấy thêm quân và tham khảo ý kiến La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về thời cơ và cách đánh quân Thanh. Câu trả lời của Nguyễn Thiếp khiến Nguyễn Huệ rất ưng ý. Nguyễn Thiếp nói: "Quân Thanh đến từ xa không biết tình hình quân ta mạnh hay yếu thế nào, không biết thế nên chiến hay nên thù thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp không quá 10 ngày sẽ phá tan; nếu trì hoãn một chút thì khó lòng được nó". Hơn thế nữa, quân Thanh sẽ sớm lộ rõ âm mưu xâm lược. Đó là lúc đội quân Tây Sơn sẽ có được sự ủng hộ và giúp sức của nhân dân. Về phía giặc, sau khi vào Thăng Long dễ dàng, quân Tây Sơn thì đã rút mãi về tận Tam Điệp (Ninh Bình) - Biện Sơn (Thanh Hoá), lại thêm được nhiều quan quân nhà Lê ủng hộ, càng gần Tết, quân Thanh càng khinh đối thủ. Tất cả những điều đó góp phần khẳng định: đó là thời cơ tốt nhất để tận diệt quân Thanh. Cùng với việc củng cố quân đội, đốc thúc việc hành quân nhanh chóng, ông còn lưu tâm đến việc làm kiêu binh địch, khiến địch ngày càng chủ quan, tự mãn. Sự thất bại của quân thù chỉ còn là vấn đề thời gian. Anh hùng nước Nam Lúc tuyển thêm binh ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đã đưa lời dụ tướng sĩ: "Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho nó chính luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng tri hữu chủ" Ông hối thúc ba quân hãy đánh sao cho quân thù không còn mảnh giáp, đánh sao cho chúng không còn đường về, đánh sao cho chúng nhận ra rằng nước Nam là có chủ. Và đội quân "cốt tinh, không cốt đông" của ông tiến vào Thăng Long đúng với khí thế ấy. Hoàng Lê nhất thống chí miêu tả sự thất bại của quân Thanh: "Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết ..., thây ngổn ngang đầy đồng, máy chảy thành suối. Quân Thanh đại bại". Những mũi tấn công sắc sảo của quân Tây Sơn luôn giáng cho quân địch những đòn chí mạng. Bởi thế, chỉ một trận Rạch Gầm - Xoài Mút mà quân Xiêm sau này "sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Còn nhà Thanh cũng tắt luôn âm mưu xâm lược nước Nam từ trận đại bại đó. Minh Chi
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???
|
|
#6
|
||||
|
||||
|
(Lanhdao.net) - Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam (1946-1954) nổ ra trong muôn vàn khó khăn: một bên là chính quyền... 1 tuổi bốn bề trong vòng vây và một bên là thực dân Pháp quân đông, vũ khí nhiều. Chưa khi nào, đất nước ở vào một tình thế khó khăn như thế. Tuy vậy, cùng với Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng bước đưa kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Bài phân tích của Trung tướng - Phó giáo sư Nguyễn Đình Ước, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
![]() Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng năm 1967 Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8, chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam phải đối phó với những thách thức tưởng chừng không thể vượt qua: nạn đói tràn lan, trình độ dân trí thấp, đến 95% dân số mù chữ và đặc biệt nguy hiểm là âm mưu tái chiếm của Pháp. Với những nỗ lực chỉ đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự đồng lòng của nhân dân, nạn đói nhanh chóng bị dập tắt, chính quyền được củng cố thêm một bước. Ngày 23/9/1945, quân Pháp quay trở lại chiếm Nam Bộ và tìm cách mở rộng chiến tranh ra khắp các vùng miền trên đất nước. Nguy cơ ngoại xâm đã hiện rõ. Vậy nên, song song với củng cố chính quyền, Đảng và nhà nước kêu gọi nhân dân hết mình chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc sớm muộn cũng sẽ xảy ra với thực dân Pháp. Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên của Việt Nam, ông Võ Nguyên Giáp chính là tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Tài năng cá nhân của ông cộng với sự lãnh đạo tập thể của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một trong những yếu tố làm lên thắng lợi cuối cùng của dân tộc Việt Nam trước thực dân Pháp, mà tiêu biểu là chiến thắng Điện Biên Phủ. Dập tắt kế hoạch thắng chớp nhoáng của địch Chưa khi nào thế trận địch mạnh, ta yếu lại rõ như lúc này: một chính quyền non trẻ với quân đội đơn sơ và người dân lại vừa thoát khỏi một nạn đói khủng khiếp phải đương đầu với một trong những tên đế quốc hùng mạnh nhất, có sự trợ giúp của các lực lượng bên ngoài. Vận dụng những bài học lấy ít địch nhiều trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử của cha ông, ông và các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến quyết định theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ, vừa đánh vừa xây dựng, dần giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường, từ đó tiến lên tiêu diệt hoàn toàn ý chí xâm lược của quân địch. Bước đầu tiên của kế hoạch này là phải phá cho được ý định tấn công nhanh, giành thắng lợi chớp nhoáng của địch, buộc địch phải chuyển sang cách đách lâu dài. Đứng trên vị trí tổng chỉ huy cuộc chiến đấu, ông Võ Nguyên Giáp nhận định lực lượng vũ trang của ta đủ sức cầm cự với quân địch ở thủ đô trong một tháng. Trong khoảng thời gian đó, chính quyền trung ương sẽ rút ra khỏi Hà Nội, tránh thế mạnh ban đầu của địch. Cả nước bước vào kháng chiến. Tối ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc kháng chiến bắt đầu bùng nổ từ các thành phố, thị xã ở bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng. Tại Hà Nội - nơi đặt trụ sở của các cơ quan chính phủ, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Không chỉ làm cho quân Pháp tổn thất nặng nề, quân dân Hà Nội đã cầm chân địch trong vòng hai tháng - gấp đôi thời gian dự kiến. Dù cuối cùng quân ta vẫn phải rút khỏi các thành phố, thị xã nhưng đối với cuộc kháng chiến của ta, đây là một thắng lợi chiến lược hết sức quan trọng: cơ quan đầu não được bảo vệ toàn vẹn - trụ cột của cuộc kháng chiến được giữ vững. Lớn mạnh trong vòng vây Sau khi chính quyền trung ương rút khỏi đô thị, trong 5 năm, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã diễn ra trong vòng vây của quân địch. Nhưng dưới sự chỉ đạo của đồng chí Võ Nguyên Giáp và Bộ tổng chỉ huy, đó không chỉ là 5 năm chúng ta cầm cự, mà đó còn là 5 năm chúng ta lớn mạnh dần trong vòng vây. Bộ đội chủ lực được rèn luyện và trưởng thành hơn qua chiến đấu trong các chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch Nghĩa Lộ (tháng 3/1948), chiến dịch Yên Bình (tháng 6/1948), chiến dịch Lao-Hà (tháng 2/1949), chiến dịch Đông Bắc (từ tháng 3 đến tháng 5/1949). Trong khi đó, một thế trận chiến tranh nhân dân được hình thành trên cả nước: ở cả vùng tự do, vùng giáp ranh lẫn vùng địch hậu. Trong các khu vực bị địch tạm chiếm, chiến tranh du kích được phát động triệt để. Bộ đội chủ lực cũng được phân tán thành các đại đội nhỏ về giúp dân gây dựng lực lượng vũ trang và cùng du kích chống càn. Cùng với đấu tranh quân sự, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn... đấu tranh chính trị của công nhân, học sinh, sinh viên diễn ra rất sôi nổi. Với sự lớn mạnh của quân đội và một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trên cả nước, cuộc kháng chiến dần tìm lại được sức mạnh trong dân chúng dần trở nên vững chắc. Giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Năm 1950 là thời điểm có tính bước ngoặt đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Bắt đầu từ tháng 10/1949, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến chuyển tác động tích cực đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, như: sự ra đời của nước CHND Trung Hoa (tháng 10/1949), các nước XHCN công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam (tháng 1/1950). Nhận định đó là thời cơ để ta tự giải vây cho mình, tìm sự ủng hộ từ bạn bè quốc tế, Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định mở chiến dịch Biên giới. Với sự nghiên cứu tỉ mỉ và sự chỉ đạo sát sao của ông và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giúp đỡ của cố vấn Trung Quốc, chiến dịch thắng lớn, Pháp phải rút khỏi 4 tỉnh lỵ và 114 cứ điểm, tạo ra bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến. Sau chiến dịch này, quân ta giành lại thế chủ động trên chiến trường và mở thêm một số chiến dịch tiêu diệt sinh lực địch mang tên Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Các chiến dịch này đều do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy (ông Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng năm 1948). Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, theo tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo các chiến trường từ Nam Bộ khu 5, Tây Nguyên đến Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ tiến công, phân tán đội quân cơ động của Pháp ra làm nhiều mảnh để ta tập trung lực lượng đánh nhiều đòn ở Tây Bắc. Tỉnh táo và bản lĩnh Sau chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, cục diện chiến trường ta và Pháp vào trong một trận quyết chiến chiến lược. Trong đó, Pháp chiến đấu dưới lá chắn của tập đoàn cứ điểm được coi là "bất khả chiến bại" Điện Biên Phủ. Kế hoạch tiêu diệt cụm cứ điểm Điện Biên Phủ của ta ban đầu, được trù bị tiến hành ngay trong tháng 1/1954, với phương châm đánh nhanh thắng nhanh. Lý luận được đưa ra là: địch có 11 tiểu đoàn nhưng mới đóng thành tập đoàn cứ điểm nên công sự chưa vững chắc. Hơn nữa, lần này, ngoài một trung đoàn pháo 75 ly, lần đầu tiên quân ta có thêm một trung đoàn pháo 105 ly và một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly. Những yếu tố đó có thể tạo thành một sức mạnh mới đánh sụp tập đoàn cứ điểm này trong thơi gian ngắn. Ngoài ra, nếu tiêu diệt nhanh Điện Biên Phủ trước mùa mưa, ta sẽ không gặp phải những khó khăn trong công tác hậu cần. Công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, chỉ chờ ngày nổ súng. Tuy vậy, ngay sau đó, tình hình có nhiều biến đổi. Pháp tăng quân ở Điện Biên từ 11 lên 17, rồi 21 tiểu đoàn (cả công binh), củng cố công sự. Trong khi đó, quân ta đã kéo pháo vào, nhưng vẫn còn hai khẩu chưa tới trận địa. Công sự pháo chưa vững chắc, pháo lại không cơ động như các loại xe cơ giới. Ngay trước ngày nổ súng, ông đã đề xuất thay đổi cách đánh: từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc thắng. Vì thế, thời gian tiến công được lùi lại tạo điều kiện cho việc chuẩn bị kỹ càng hơn. 61 km đường đã được làm để kéo pháo, củng cố công sự cho pháo, đào hệ thống giao thông hào và đặc biệt là tăng cường công tác hậu cần trên quy mô lớn. Ông cũng ra lệnh ngay cho Đại đoàn 308 rời trận địa bao vây Điện Biên Phủ sang Thượng Lào, tiến công địch, cô lập Điện Biên Phủ với quân Pháp ở Thượng Lào Nhờ vào quyết định trong phút chót này của ông mà sau gần 2 tháng công kích Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954), chiến thắng thuộc về quân và dân ta. 21 tiểu đoàn quân viễn chinh Pháp bị tiêu diệt và gần 1 vạn tên địch bị bắt sống. Chiến thắng ấy đã buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán ở Geneve và đồng ý rút quân khỏi Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Cùng với Điện Biên Phủ - chiến thắng lớn nhất của một nước thuộc địa trước đội quân viễn chinh thiện chiến của Pháp; đòn chí mạng vào hệ thống thực dân kiểu cũ, Võ Nguyên Giáp đã trở thành cái tên quen thuộc khi người dân thế giới nhắc đến Việt Nam. Tài năng, cẩn trọng, tỉnh táo và có tinh thần cao trước Đảng và nhân dân chính là những phẩm chất giúp ông góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam đến thắng lợi, đồng thời "hạ nốc ao" 7 viên tướng đầy kinh nghiệm của Pháp trong vòng 9 năm. Trung tướng - PGS Nguyễn Đình Ước
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???
|
|
#7
|
||||
|
||||
|
(Lanhdao.net) - Giống như nhiều nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong thế kỷ 20, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người giàu bản lĩnh. Lịch sử đã thử thách ông không chỉ một lần và chưa lần nào ông bỏ cuộc. Dù khi Huế - mảnh đất quê hương ông - mất liên lạc với cách mạng cả nước năm 1942, hay khi mặt trận Bình-Trị-Thiên vỡ trước sức mạnh ban đầu của quân Pháp (1946-1947), mỗi quyết định của ông đều trở thành điểm tựa và kim chỉ nam cho cuộc chiến đấu của nhân dân.
![]() Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (bên phải) tại Đại hội Đảng bộ quân đội 1960 Cách mạng tháng 8 thành công mang lại quyền làm chủ thực sự cho người dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân bắt tay vào xây dựng một nhà nước của chính mình. Nhưng tiếng súng ngưng chưa bao lâu thì thực dân Pháp đã đem quân trở lại, âm mưu tái chiếm Việt Nam. Tháng 9/1945, với sự trợ lực từ quân Anh, Pháp nhanh chóng chiếm Nam Bộ và chuẩn bị đưa quân ra toàn Việt Nam. Ngày 19/12/1946, sau nhiều nỗ lực tìm kiếm một giải pháp hòa bình với Pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân Việt Nam bùng nổ. Trên cương vị là Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế và từ năm 1948, Bí thư phân khu ủy Bình-Trị-Thiên, Nguyễn Chí Thanh đã đưa phong trào kháng chiến trong vùng vượt qua nhiều thách thức. Quân dân nơi đây mến phục và gọi ông là "linh hồn của cuộc kháng chiến Bình-Trị-Thiên". Bình-Trị-Thiên lâm nguy Ngày 19/12/1946, từ Hà Nội, kháng chiến chống Pháp nhanh chóng bùng nổ trên toàn quốc. Trong thế trận của cả nước, nhiệm vụ của chiến khu 4 (khu vực Bắc Trung Bộ) được xác định là "tiến công vào lực lượng quân Pháp hiện đang đóng ở thành phố Vinh (Nghệ An) và thành phố Huế (Thừa Thiên-Huế). Một mặt bố trí lực lượng ở phía nam tỉnh Thừa Thiên, có nhiệm vụ ngăn chặn viện binh của địch từ Đà Nẵng ra Huế khi chiến sự bùng nổ". Với sự tập trung của một số lượng khá lớn quân Pháp, Huế trở thành chiến trường trung tâm của mặt trận Bình-Trị-Thiên - cây cầu nối bắc nam Việt Nam, một khu vực chiến lược đối với cả ta và Pháp. Cuộc chiến tại Huế bắt đầu lúc 2h30 phút ngày 20/12/1946 và kéo dài gần 2 tháng. Sau hơn 20 ngày đầu tiên nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của địch, quân dân Thừa Thiên-Huế đã buộc địch phải co cụm cố thủ trong các trường dòng, viện dân biểu... Tuy vậy, với âm mưu chiếm đóng khu vực Bình-Trị-Thiên làm bàn đạp tấn công các tỉnh phía bắc khu 4, Pháp phái quân tiếp viện đến giải vây và đẩy lùi quân kháng chiến ở Huế. Trước sức mạnh của quân địch, quân ta chỉ cầm cự được đến đầu tháng 3 rồi rút khỏi Huế bảo toàn lực lượng. Thừa thế, quân Pháp tiến công mở rộng, đánh chiếm Thừa Thiên Huế và các tỉnh xung quanh. Vừa đánh, quân Pháp vừa thực hiện chiến thuật "vết dầu loang" - xây dựng đồn bốt, lập hội tề và mở các cuộc càn quét để kiểm soát các vùng chúng chiếm được. Càn quét, giết chóc, đốt phá, quân Pháp thực hiện tất cả các biện pháp để tróc rễ những đảng viên cộng sản bám trụ trong nhân dân, uy hiếp và tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân Huế nói riêng và mảnh đất miền trung nói chung. Vì thế, sau khi mặt trận Huế vỡ, nhiều cơ quan đảng bộ trong tỉnh bị thiệt hại nghiêm trọng, như đảng bộ Phú Vang từ 193 đến thời điểm đó chỉ còn vẻn vẹn 23 đảng viên. Còn các đơn vị bộ đội, sau khi rút khỏi thành phố Huế, do hoạt động khủng bố gắt gao của địch, cuộc sống của các đơn vị này cũng trở nên vô cùng khó khăn: ăn đói, mặc rách, rét mướt, bệnh tật. Tinh thần và tư tưởng của họ bị chao đảo, sức chiến đấu giảm sút nghiêm trọng. Những cuộc truy lùng gắt gao và hành quyết dã man các đảng viên cộng sản, những cuộc càn quét liên miên của giặc Pháp, thêm vào đó là sự rút lui của quân đội, tất cả đã khiến nhân dân hoang mang. Không khí sợ hãi, lo âu bao trùm trong dân chúng. Phong trào kháng chiến của Huế và cả khu vực Bình-Trị-Thiên chùn lại và vấp phải những khó khăn chồng chất. Không chỉ cần một ngọn lửa để giữ vững niềm tin, cuộc đấu tranh của nhân dân Huế còn cần có một lối đi mới, thích hợp với tình hình hiện tại. Lấy tiếng súng mang lại niềm tin cho nhân dân Trên cương vị Bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cho triệu tập gấp một hội nghị các cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên. Hội nghị diễn ra tại thôn Nam Dương (huyện Quảng Điền) vào ngày 25/3, tức là chỉ hơn nửa tháng kể từ sau khi quân ta rút khỏi nội thành Huế và 9 ngày sau khi quân Pháp hoàn toàn chiếm được Huế. Đây không chỉ đơn thuần là một hội nghị kiểm điểm mà còn là một hội nghị xốc lại tinh thần các cán bộ đảng viên, bộ đội và rọi ánh sáng vào công cuộc đấu tranh đang bế tắc của nhân dân Thừa Thiên-Huế. Điều này ít nhiều cho thấy sự sắc bén và nhạy cảm đối với những thay đổi của tình thế trong tư duy của Nguyễn Chí Thanh. Những chủ trương được đưa ra trong hội nghị là một kế hoạch toàn diện, điểm trúng những vấn đề cuộc đấu tranh đang vướng phải. Trước hết, để tìm lại niềm tin của nhân dân, phải tiếp tục kháng chiến, phá chính sách bình định của giặc, tiến hành trừ gian, phá tề. Để động viên, chấn chỉnh và phát triển quân đội phải khuyến khích nhân dân tăng gia sản xuất, cất dấu lương thực, canh gác để làm ăn và tiếp tế cho chiến khu. Và để xây dựng cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến, cán bộ đảng viên phải củng cố, xây dựng lại cơ sở, đưa cán bộ đảng viên trở về địa phương để hoạt động, nắm quần chúng nhân dân, chấn chỉnh quân đội, dân quân tự vệ, chỉnh đốn các uỷ ban kháng chiến và kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng. Ngay sau khi hội nghị kết thúc, bước 1 của kế hoạch vực dậy phong trào đấu tranh trong tỉnh Thừa-Thiên-Huế được triển khai nhanh chóng. Với khẩu hiệu "nổ lại tiếng súng kháng chiến mang lại tin tưởng cho đồng bào", các đơn vị bộ đội trong tỉnh được tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế giao nhiệm vụ tổ chức một số trận đánh để gây lại phong trào và xây dựng lòng tin trong quần chúng. Bằng cách đánh bất ngờ, chỉ trong tháng 3/1947, các đơn vị bộ đội trong tỉnh đã hai lần chiến thắng quân Pháp tại Hộ Thành và đồn Đất Đỏ. Nổ ra sau hai chiến thắng này, là hàng loạt những cuộc tấn công nhỏ của dân quân tự vệ khắp nơi trong tỉnh. Từ tháng 7/1947 trở đi, phần lớn lực lượng vũ trang Thừa Thiên-Huế đã về hoạt động ở đồng bằng, từng bước xây dựng lại cơ sở kháng chiến, phát động phong trào chiến tranh du kích, giúp nhân dân sản xuất, tạo chuyển biến ở cơ sở, đem lại niềm tin cho nhân dân. Lấy lại được sự tin tưởng của nhân dân, từ đây, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế có điều kiện đạt được những bước phát triển mới. Đầu năm 1948, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được cử làm bí thư phân khu Bình-Trị-Thiên. Đây cũng là thời điểm, dưới sự chỉ đạo của ông, nhiều vùng hậu địch đã bị biến thành vùng kháng chiến của ta. Xây phong trào kháng chiến trong lòng địch Nhằm vực lại tinh thần cán bộ đảng trong hội nghị Nam Dương, Nguyễn Chí Thanh đã nhấn mạnh: "Mất đất chưa phải là mất nước" và ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ sở kháng chiến trong dân chúng thông qua việc thúc giục bộ đội và các cán bộ đảng viên "tranh thủ từng người, từng thôn. Chúng ta không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở". Ngay sau hội nghị Nam Dương, với định hướng đường lối rõ ràng, nhiều cán bộ đảng viên đã bất chấp nguy hiểm, vượt qua những hệ thống đồn bốt dày đặc của địch về cơ sở. Thế nên, chỉ hơn 1 tháng sau khi bộ đội chủ lực rút khỏi Huế, phong trào kháng chiến được gây dựng trở lại. Đến đầu năm 1948, từ chỗ bị đánh bật khỏi cơ sở, các cán bộ đảng viên đã gây dựng và từng bước củng cố các uỷ ban hành chính kháng chiến, bám sát, chỉ đạo nhân dân sản xuất, phục vụ chiến đấu Cùng với lực lượng cán bộ đảng viên, với phương châm: "Đánh địch để xây dựng cơ sở, xây dựng cơ sở làm chỗ dựa đánh địch", lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên đã tạo được sự phát triển mới trong phong trào toàn dân kháng chiến. Bắt đầu từ tháng 7/1947, một số tiểu đoàn quân chính quy được phân tán thành những đơn vị nhỏ - còn được gọi là các "tiểu đội độc lập", thực hiện "quần chúng hóa" bám dân, bám địa bàn, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tác chiến liên tục, đánh vào các đồn bốt và ngăn chặn các cuộc càn quét của địch. Ngoài sự hoạt động hiệu quả của các "tiểu đội độc lập", phong trào phá tề do trung ương phát động đầu năm 1948 cũng phát triển hết sức mạnh mẽ, đều khắp. Hệ thống nguỵ quyền cơ sở mất hiệu lực khiến cho địch không dám tiến hành kiểm soát và khống chế dân. Ở nhiều xã ngay trong vùng địch tạm chiếm, ngụy quyền tan dã. Nhân dân khắp nơi hưởng ứng, giúp đỡ kháng chiến. Đến cuối năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng, Bình-Trị-Thiên chung đã đạt được khí thế mới: càng đánh cành mạnh như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nối: "Bình-Trị-Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận." Đến năm 1950, khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh được điều về làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, chịu trách nhiệm chính về công tác tư tưởng trong quân đội, cuộc kháng chiến của nhân dân Bình-Trị-Thiên đã qua cơn nguy biến. Quyền chủ động trên chiến trường đã thuộc về tay quân dân ta. Vực dậy cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng và Bình Trị-Thiên nói chung không phải là công lao được nhắc đến trước nhất mỗi khi người ta nói đến Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhưng đó là một chiến công khắc họa rõ nét phong cách lãnh đạo của ông. Một phong cách bãn lĩnh, nhanh nhạy, tài năng và có tầm chiến lược sâu sắc. Minh Chi
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???
|
|
#8
|
||||
|
||||
|
Sức mạnh tinh thần nhân dân chính là cái quý giá nhất của mọi cuộc chiến tranh , nếu có một đội quân với vũ khí hiện đại nhưng tinh thần yếu ớt và không nhận được sự đồng thuận của nhân dân trong nước , từ đó người lính đi chỉ là nghĩa vụ chứ không còn tinh thần dân tộc nữa thì làm sao mà chiến đáu ?
>>>không chiến thắng nổi chính bản thân mình thì làm sao mà chiến thắng được kẻ khác . Hóa ra ngày xưa nước mình đã có chế độ bình đẳng nam nữ rồi à ? Bọn tàu sang làm đảo lộn hết nhỉ . Sao ngày xưa LTK ko chiếm luôn một vài tỉnh phía nam tq nhỉ ? vừa làm cho dân tq khiếp sợ như tụi nó từng sợ các đội quân : Hạ hồi , liêu , kim , mãn châu .... nhỉ . Tranh thủ mở mang lãnh thổ , tiêu diệt kẻ thù trước chính là cách bảo vệ chính mình <<< sai thì phải Nhưng phải nói các Hoàng Đế Việt cũng đã áp dụng một kiểu tư duy " tiêu diệt kẻ thù trước khi nó tiêu diệt mình " nên ngày nay mới được một đát nước VN như vậy . Có thể có ng thì cho đó là nam tiến là di dân để kiếm vùng đất màu mỡ làm ăn nhưng cuối cùng thì bản chất thật sự của các vua chúa là mở mang bờ cõi cho dân tộc việt .<<< Mình thích cái tư tưởng này , nhưng bi h thì nên áp dụng vào kinh tế và văn hóa như hàn quốc đã làm ấy nhỉ . |
|
#9
|
||||
|
||||
|
Trích dẫn:
Các hoàng đế Việt mình ngày xưa cũng "xương" ra phết chứ không như mấy hoàng đế của Triều Tiên , lệ thuộc Trung Quốc 1 cách dã man , nhưng bây giờ lại khác Hàn nó lại mạnh lại giàu , văn hóa của nó được "tiếp thị" ghê thật , ngày xưa chả biết tiếng Hàn bây giờ cũng biết nói vài câu :p . Việt Nam mình bao giờ mới được như thế nhỉ ?
__________________
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM
|
|
#10
|
||||
|
||||
|
Trích dẫn:
. Nếu có thể khơi dậy tinh thần li khai đòi đọc lập như những vùng tây tạng thì xã hội chính trị thái lan sẽ bất ổn .Trích dẫn:
Và nếu đồng chí có xem ngược lại dòng lịch sử của nước bạn LÀO thì đồng chí sẽ thấy .Lào cũng từng là nước khá mạnh trước khi bị miến điện và xiêm la xâm chiếm và bị xiêm chiếm hẳn ....vào năm nào thì mình chẳng nhớ . Người pháp cũng đã từng yêu cầu thái lan cắt phần đông bắc thái lan để nhập vào nước lào vì vùng đó có cùng ngôn ngữ và văn hóa với người LÀO nhưng lúc đó thái cậy Anh quốc nên chỉ cắt phần bên kia sông mekong . <<< đó chẳng phải là sự bất ổn , khơi dậy tinh thần độc lập của những người Isan hay sao ? vấn đề là ai sẽ khơi dậy tinh thần đó và mục đích thôi . Kinh tế của Isan có thể kém phát triển nhưng nếu được một nước mạnh giúp đỡ xây dựng phát triển thì chẳng có gì là không thể cả . |
| Công Cụ | |
| Xếp Bài | |