|
#11
|
||||
|
||||
|
Trích dẫn:
Cutegirl ơi em nói thế oan cho anh quá . anh đâu có nói vì mấy em xinh mà anh muốn gặp hay không xinh thì không gặp đâu em . Anh chỉ nói là mong được gặp mọi người đông đủ trong buổi Ofline ở TQ vào dịp tết thôi mà .Câu sau là một câu khen tặng các bạn lớp em thôi mà . oan cho anh quá
__________________
Hang xach tay | Glucosamine | Nam linh chi | Sữa ong chúa | Collagen |Thuoc giam can | | Hàng xách tay tao nhat| thuoc giam can nhanh| sam han quoc | An cung ngưu hoàng hoàn | best slim| best slim usa|thuoc giam can best slim| |
| Click quảng cáo ủng hộ diễn đàn |
|
#12
|
|||
|
|||
|
thắm ơi ! mình là vũ đây đối với mình bạn là người quan trọng nhất
|
|
#13
|
||||
|
||||
|
Trích dẫn:
Lớp này vui quá! Mà em Thắm là em nào vậy nhỉ? Sao không lên tiếng hả? Để người ta mỏi mòn chờ đợi hay sao???
__________________
Cuộc sống không xây bằng ảo tưởng... Người ta đi lên từ mộng ước đời thường! |
|
#14
|
||||
|
||||
|
Thắm ơi ra mặt đi mọi ngừoi đã có "lòng" thi mình cũng phải có "mề" chứ.Tớ thấy hội con trai sắp không chịu nổi nữa rồi
__________________
Hạnh phúc hay là nỗi đau Đi đến tận cùng cũng chỉ là nước mắt Sửa lần cuối bởi thanh_huyen_20689 (09:45 AM 01-01-2007) |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Các em ơi ! đó là đại diện ưu tú của lớp chuyên văn 12c5 hay sao ? Trời ạ
hơi xấu nhưng bọn em được cặp kính Toooooooooo kéo lại . bebebebebebebe |
|
#16
|
|||
|
|||
|
Thư anh viết thật là bay
Bướm em mong đợi từng ngày từng đêm. |
|
#17
|
|||
|
|||
|
Trăng lên cao tít đỉnh đầu
Em ngồi,em...thật là lâu Bỗng nghe tiếng tõm bên sông ấy Hóa ra bên ấy cũng...cầu |
|
#18
|
|||
|
|||
|
Nếu mừ anh lí đuợc nàng
Mua bàn chải sắt cho nàng đánh răng |
|
#19
|
|||
|
|||
|
Chồng ta ít áo ta thuơng
Chồng nguời không áo ta tuơng luôn chồng nguời |
|
#20
|
|||
|
|||
|
Báo Hoa Lư Số 5
Thơ Bút Tre Vũ Hoằng Dương & Nguyễn Văn Cóc Trích trong Gió Ðông 1. Có một nhận xét đã trở thành huyền thoại: "Việt Nam là một dân tộc làm thơ và đánh giặc". Nhưng huyền thoại này có vẻ thực tế lắm. Lý do một phần là vì nhạc tính của tiếng Việt nên dễ nói thành thơ và vì địa bàn của nước Việt nên thường phải đánh giặc. Người ta bảo, đến một đứa trẻ con hay một người kém học Việt Nam cũng thuộc ít nhất một câu thơ. Và hiện tượng này không chỉ nói lên cái "tâm hồn thơ" của dân gian Việt Nam, mà còn ngụ ý tính cách 'dân dã' của một bộ phận thơ Việt. Nói như vậy dĩ nhiên không có nghĩa là bảo đám bình dân của các dân tộc khác không có tâm hồn thơ, hay thơ các dân tộc khác không có những bộ phận mang tính cách dân dã. Ðiều đáng để ý là luồng thơ vè dân gian Việt Nam (trong nghĩa đối lập với luồng bác học) vẫn đang chảy cuồn cuộn không thua kém, đôi lúc còn có vẻ hơn cả luồng thi ca bác học. Sự ngang ngửa của luồng thơ vè dân gian so với luồng thi ca bác học biểu hiện ở tính phong phú về cả thể loại lẫn ý tưởng và ở tác dụng xã hội của nó. Một ví dụ trực quan cho sự ngang ngửa này: Thơ Bút Tre và Thơ Mới đã là hai sáng tạo đáng kể nhất của nền thơ ca Việt Nam trong thế kỷ 20, một thứ tiêu biểu cho dòng thơ dân gian, một thứ cho dòng thơ bác học. Cả hai đều đã có những tác động tới xã hội mà khó có thể nói 'mèo nào cắn mỉu nào. Nếu như có thể nói về một thứ 'uy lực' của Thơ Mới thì cũng không thể không nhắc đến một kiểu 'quyền uy' của Thơ Bút Tre. Có thể phân biệt hai loại 'quyền uy' của thơ Bút Tre: quyền uy xã hội và quyền uy văn chương. Cái 'quyền uy văn chương' của thơ Bút Tre gắn liền với câu hỏi "Thơ Bút Tre là gì?", bởi, do tiếng tăm của nó mà người ta thường gán cho thơ Bút Tre nhiều thứ không phải là thơ Bút Tre. Nhưng thật ra việc khoanh vùng thơ Bút Tre chỉ có nghĩa tương đối. Những người mà ta bảo là đã gán cho thơ Bút Tre những cái không phải thơ Bút Tre không hề là những kẻ không hiểu gì về thơ Bút Tre, đơn giản là họ hiểu khác ta mà thôi. Vậy giữa những cách hiểu rộng và hẹp về thơ Bút Tre ta phải chọn cách hiểu nào đây, bởi phải biết thơ Bút Tre là gì thì ta mới có thể nói về thơ Bút Tre chứ? Cách đặt vấn đề thế này tuy nhiên chưa thật thấu đáo. Nó sẽ dẫn ta vào ngõ cụt. Ðặt vấn đề ngược lại thì đường đi của ta sẽ thông thoáng hơn. Trước tiên, ta sẽ xét tất cả những cái mà người đời gọi là thơ Bút Tre, để từ đó đi đến một mẫu số chung cho các cách hiểu về thơ Bút Tre của người đời. Ðó là cái chung nhất giữa các loại thơ Bút Tre với nhau. Tiếp theo, ta sẽ gạn ra những gì có thể thuộc về các thể loại khác, để chừa lại cái đặc sắc nhất, cái riêng nhất của thơ Bút Tre so với các loại thi ca khác. Do khuôn khổ bài viết hạn hẹp, sau đây ta chỉ có thể làm hai công việc vừa nêu trong những nét chấm phá mà thôi. Thơ Bút Tre thoạt kỳ thủy do ông Bút Tre, một cán bộ Ty Văn hóa tỉnh Vĩnh Phú, 'đẻ' ra vào nửa đầu thập niên 60. Thế nhưng dòng văn chương dân gian gọi là "thơ Bút Tre" lại không mấy chung đụng với những bài thơ của ông Bút Tre này. Có lẽ Hà Sĩ Phu đã viết khá cô đọng về vấn đề đó: "Xã hội quái đản ấy [tức xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản - chú thích của VHD & NVC] cũng buộc phải đẻ ra thơ 'Bút Tré để phản ảnh nó, khi văn học chính thống cứ ngồi lù lù đó một cách vô tích sự. Tôi không nói ông Bút Tre ở Vĩnh Phú mà ông Ngô Quang Nam vừa mới viết sách ca ngợi. Cái ngớ ngẩn một cách chân thành, và chân thành một cách ngớ ngẩn, của người cán bộ văn hóa Vĩnh Phú kia chỉ là cái cớ để dân gian tải cái ngớ ngẩn giả vờ của mình, để riễu cợt những giá trị mà công khai họ cứ phải 'hoan hố. Thơ 'Bút Tre thật' không ai thuộc làm gì, đọc rồi cũng không nhớ được, còn 'Bút Tre dân gian' thì mỗi lần nghe người ta đọc, tôi lại thấy cái sức sống mới mẻ, say sưa như thể chính người ấy đang sáng tác. Câu thơ Bút Tre chính xác và thông minh, đa nghĩa, lại núp dưới cái vỏ ngô nghê đơn nghĩa, để nhại chính cái thứ văn học công nông đại chúng tùy tiện giáo điều. Cười bò ra, rồi chảy nước mắt vì đau trong ruột". (Hà Sĩ Phu 1995, tr. 27) Ðể so sánh, có thể nói thơ Bút Tre cũng giống như chuyện Trạng Quỳnh cách đây mấy thế kỷ vậy. Cũng được gắn đại cho một nhân vật cụ thể (có thật hoặc không có thật) nhưng kỳ thực là do những tác giả vô danh trong dân gian sáng tác; cũng mượn cái cười của dân gian để 'đá' nhà cầm quyền. Hà Sĩ Phu gọi 'món võ' này là "chống 'Chính thống' bằng con đường không chính thống" (Hà Sĩ Phu 1993, tr. 39). Ðã gọi là có "chính thống" tức là phải có "phi chính thống", và ngược lại. Hiện tượng phân biệt giữa chính thống và phi chính thống đã bắt đầu trở nên đáng kể trong xã hội Ðại Việt từ thời Hậu Lê và ngày càng gay gắt hơn theo thời gian: "Trong gần một ngàn năm độc lập của 'kỷ nguyên Ðại Việt' (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX) nền văn hóa Việt đã nứt thành hai á văn hóa, một thứ của triều chính, một thứ của dân gian. Hai á văn hóa này theo đuổi hai xu hướng, hai 'chiến lược' đối nghịch nhau. Sự xa rời của hai á văn hóa triều đình và dân gian đã gây ra sự đối kháng giữa nhà nước và nhân dân trong lòng xã hội Việt Nam" (Vũ Hoằng Dương 1995, tr. 4). Cho đến thế kỷ 20, sự xung đột giữa chính thống và phi chính thống đã đạt tới những đỉnh cao mới (xem Nguyễn Thế Việt 1996a). Trên tột đỉnh xung đột này, từ những đối kháng và đồng hóa lẫn nhau giữa hai á văn hóa chính thống và phi chính thống, đã xuất hiện "thơ Bút Tre". Nhưng tại sao thơ Bút Tre lại có được cái 'uy quyền' khiến người ta có khuynh hướng dán cho tất cả các loại thơ vè phi chính thống cái nhãn "thơ Bút Tre"? Hẳn là vì thơ Bút Tre đã 'làm xuất sắc nhiệm vụ phi chính thống', tức là đã 'đi đến tận cùng cái phi chính thống', đồng thời đem đến cho nụ cười nước mắt hoặc đôi má chín đỏ và đem đến cho sự đạo mạo, sự phải đạo nụ cười. Thơ Bút Tre không đối chính thống mà nó phi chính thống. Nói Việt hơn một chút, nó không vỗ ngực chống lại 'đạo', mà nó giả ngây giả ngô không phải đạo một cách 'hồn nhiên'. Nó không chỉ trích chính sách của "Ðảng và Nhà nước", mà nó nói theo Ðảng và Nhà nước, thế nhưng nó lại nói theo một cách 'công nông quá đáng' để vô hình chung biến cái nghiêm chỉnh của nhà cầm quyền thành trò hề cho thiên hạ mà đồng thời cười luôn cả cái công nông đang được phong lên làm chính thống: "Chú làm công tác bảo tàng, Cũng là nhiệm vụ cách màng giao cho", tương truyền là lời bác Hồ nói với ông Bút Tre. Nghiêm túc phải nói là "cách mạng", nhưng "Bút Tre" lấy cớ nói như thế không hợp luật bằng trắc ("luật của chính thống đấy nhá") để chuyển thành "cách màng" cho đúng với niêm luật. Cũng theo thủ pháp 'công nông quá đáng' nói trên, thơ Bút Tre không đả kích lãnh tụ, trái lại là đằng khác, nó cũng hoan hô lãnh tụ như thơ chính thống, thế nhưng nó diễn đạt vụng quá, khiến người ta cứ phải hiểu 'nhầm' là nó trêu chọc lãnh tụ: "Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh, Anh về phân bắc phân xanh đầy chuồng", Nguyễn Chí Thanh là đại tướng quân đội cộng sản có thời làm lãnh đạo công tác nông nghiệp. Cũng một ông đại tướng, ông Võ Nguyên Giáp, về sau bị chuyển qua công tác "sinh đẻ có kế hoạch", bị dân làm thơ riễu: "Ngày xưa đại tướng bịt đồn, Ngày nay đại tướng bịt l... chị em", nhưng câu thơ này tục tĩu một cách sỗ sàng chứ không vụng về, nó đối hẳn lại với nghiêm túc, với chính thống một cách không dấu diếm, chứ nó không đả chính thống theo kiểu đúng luật nhưng mà ngây ngô hoặc kiểu 'ý lành, tứ què' như nhiều câu thơ Bút Tre khác. Có người vẫn cho nó là thơ Bút Tre bởi vì nó tục và nó riễu cợt quan to, tức là nó không chính thống, song câu thơ này thiếu hẳn nét đặc sắc của thơ Bút Tre, nét 'công nông lên gân'. Tính phi chính thống của thơ Bút Tre không chỉ là phi chính thống về mặt chính trị. Thơ Bút Tre phi chính thống cả về thẩm mỹ và về văn chương. Phi chính thống về thẩm mỹ là kiểu thơ Bút Tre ý thì thanh mà nói ra lại thành tục: "Anh đi công tác Pơ Lây Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra?", Plây Cu là tên một thị xã trên cao nguyên miền Trung. Cũng có nét độc đáo Bút Tre kiểu câu thơ trên là câu: "Dởm thay thủ tướng Võ Văn Kiệt hết cả sức nằm lăn trên giường", nên có người cũng kêu câu này là thơ Bút Tre. Nhưng vì thiếu cái 'vụng về hồn nhiên' nên nó không cho ta cảm hết cái chất 'Bút Tré cần có. Còn phi chính thống về văn chương là kiểu thơ Bút Tre ý thì lành nhưng vần lại què: "Ðứng trên bãi cát bồn chồn, Các cô con gái giở lưng ra phơi", đúng niêm luật đâu có được dùng vần "ưng" mà phải dùng vần "ồn", nhưng "Bút Tre" cứ giả vờ không biết luật để dùng vần "ưng" cho trúng điều mình muốn nói, mà người nghe lại cứ bắt sang vần "ồn" cho đúng luật để thành ý tục, 'tục là tại người nghe đấy nhá, Bút Tre không nói thế đâu. Sự biện biệt ra chính thống chính trị, chính thống văn chương hay chính thống thẩm mỹ dĩ nhiên chỉ bằng những lát cắt tưởng tượng. Trên thực tế cái phức hợp chính thống của chính trị luôn bao gồm cả những khía cạnh văn chương và thẩm mỹ, v.v... Tuy nhiên thơ Bút Tre không thể nào chỉ phi chính thống về một khía cạnh. Nó phải phi chính thống từ ít nhất hai khía cạnh đổ lên, để luôn luôn có một cái phi chính thống lộ làm chìa khóa cho một cái phi chính thống ẩn. Ngoài ra, cái 'lộ' kia sẽ phải làm chứng cho sự vô tội của Bút Tre. Câu thơ riễu ông Võ Nguyên Giáp kể trên, không có cái phi chính thống ẩn nên thật khó có thể gọi là thơ Bút Tre. Cái phi chính thống ẩn bao giờ cũng là cái 'đáng đánh đòn', đơn giản chỉ vì 'võ Trạng Quỳnh' (mà thơ Bút Tre thuộc cùng 'môn pháí) là thứ võ tránh đòn chính là ra đòn. Thứ võ của kẻ "bị tước hết vũ khí" (Hà Sĩ Phu 1993, tr. 39). Anh không thắng được nó tức là anh thua. Thơ Bút Tre ra một cái đòn giả là cái phi chính thống lộ, để phát một cái đòn thật là cái phi chính thống ẩn. Lúc thì thơ Bút Tre nhử đòn phi chính thống 'thẩm mỹ' để đánh đòn phi chính thống 'chính trị': "Tin nghe như sét đánh ngang Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần", chuyện bác Hồ từ trần là chuyện đáng khóc, vậy mà 'nó' lại 'vô ý' gây cười bằng cách dùng ngôn từ tuy nghiêm túc nhưng không đúng chỗ, nghiêm túc một cách quá cứng nhắc mà trở nên trò đùa. Vẫn lại thủ pháp 'công nông lên gân'. Lúc nó lại nhử đòn phi chính thống 'văn chương' để đánh đòn phi chính thống 'thẩm mỹ', thứ thẩm mỹ của đạo đức chính thống, thứ thẩm mỹ phải đạo: "Ước gì anh hóa thành chồn, Vào trong buồng tắm cọ lưng cho em". Cũng có một cách giải thích ngược lại về ý đồ của tác giả câu thơ Bút Tre này: 'Nó' (tức câu thơ trên) muốn đả vào niêm luật của văn chương, bằng cách đưa ra ví dụ cho thấy nếu cứ giữ đúng niêm luật văn chương thì sẽ phạm vào sự thanh nhã. Thông thường thì chỉ một, nhưng đôi khi thơ Bút Tre nhử không những một mà có đến hai đòn lộ: "Anh ra hái một quả chuồi, Ðể ghi nhớ mãi cái b... hôm nay", đáng lẽ phải là "quả chuối" mới hợp thực tế, thì nó nói "quả chuồi", cho đúng luật bằng trắc, và cũng để cho đúng luật bằng trắc, nó buộc phải đổi từ "buổi" ở câu sau thành từ "b...", để rồi mắc lỗi thẩm mỹ. Cả hai cái lỗi, sai thực tế và phản thẩm mỹ, đều là tại luật (luật bằng trắc) đấy nhá, không phải tại tớ đâu đấy, ý 'nó' bảo như vậy. Kẻ phải nhận cái đòn thật của thơ Bút Tre không phải bao giờ cũng là chính thống chính trị như một tổng thể gồm cả khía cạnh đạo đức thẩm mỹ của nó. Có khi 'cái bia' của thơ Bút Tre chỉ là một chính thống phi chính trị nào đó như những niêm luật của văn chương mà thôi. Song ta hoàn toàn vẫn có thể lý luận ngược lại, rằng như trong câu thơ vừa dẫn tác giả của nó không nhắm bắn luật bằng trắc của chính thống văn chương (chính thống văn chương không nhất thiết cũng phải là văn chương chính thống), mà nhắm bắn luật lịch sự của đạo đức chính thống hay chính thống đạo đức, gì đó, chẳng hạn. Tiếp tục suy diễn để đi tìm cái gọi là thâm ý thực sự của câu thơ Bút Tre, chính là ta đang mắc lừa một trong những 'thâm ý thực sự' của hắn. Cái hiểm trong đòn võ của hắn là ở đây: làm cho kẻ truy tìm ẩn ý của hắn cứ rối mù lên chẳng biết đằng nào mà lần mà kết tội hắn. Bàn rộng ra, cái món võ hiểm này rất ăn khớp với cái cá tính Việt Nam mà Hà Sĩ Phu tổng kết: "Dân mình có thói khôn vặt: nói thế mà không phải thế! Nói 'dậy' mà không phải 'dậy' nên khi gặp chủ nghĩa Mác-Lê thì tâm đắc vô cùng, cả hai đều thích 'nhân danh' nhưng không thích chính danh". (Hà Sĩ Phu 1995, tr. 25) Dòng thơ Bút Tre đã ra đời trong sự tâm đắc mà căm ghét đó. Thơ Bút Tre cũng bắt chước chính thống cả ở chỗ nó không chính danh mà chỉ nhân danh. Bắt chước chính thống để đả kích chính thống. Ðây là kiểu "chống chính thống bằng con đường không chính thống" (Hà Sĩ Phu) rất riêng của thơ Bút Tre. Như một kẻ dị tật mang cái dị tật của mình ra mà nhại lại kẻ lành lặn. Hậu quả chỉ có thể là kẻ lành lặn bị riễu cợt chứ đã đến nước này thì riễu cợt kẻ dị tật phỏng còn ích gì. Thế mà dùng lý, làm sao có thể kết án kẻ dị tật kia phạm tội chế riễu kẻ lành lặn được. Chưa hết, ngay cái 'dị tật' kia, cái sứt mẻ thẩm mỹ ấy cũng không phải của riêng Bút Tre nốt, mà là Bút Tre bắt chước của 'công nông'. Ðẹp với xấu, nghiêm với hài cứ đánh tráo cho nhau mãi, biến hóa khôn lường. Một nét đặc sắc nữa của thơ Bút Tre là tính triệt để phi chính thống. Nó phi không chỉ cái chính thống của chính trị mà nó phi đủ các loại chính thống, cả những chính thống phi chính trị nó cũng không chừa. Nó ngoéo chân bất cứ sự phải đạo nào. So vào cách phân biệt hai loại phi chính thống của Nguyễn Thế Việt (1996b) thì thơ Bút Tre thuộc vào loại "đối kháng hoặc khác biệt tư tưởng không có chủ đích cạnh tranh vị trí chính thống". Nhưng chính hình thức 'thiếu tích cực' này của thơ Bút Tre lại là một bằng cớ cho tính triệt để phi chính thống của nó, và chính tính chất triệt để này đã cho nó cái 'quyền uý mà ta đề cập ở đầu bài. Sau khi phác qua cái mẫu số chung và những nét đặc thù của thơ Bút Tre, tưởng cũng nên ghi lại một nhận xét con con: Thơ Bút Tre hầu như tất thảy đều chỉ là hai (hoặc một, tùy cách đếm) câu thơ lục bát cặp đôi với nhau. Ta vẫn có những bài vè dài vừa dân gian, vừa đả kích chính quyền, kể cả những bài chắp lại từ những câu thơ Bút Tre. Ta cũng có cả những câu đối 'phi chính thống' như kiểu: "Ba mươi năm chinh chiến, tướng Võ không còn nguyên giáp; Nửa thế kỷ đấu tranh, già Hồ mất hết chí minh". Tuy nhiên thơ Bút Tre triệt để dân gian hơn các loại ca, vè, đối phi chính thống này nhiều. Nó bắt buộc phải là thơ lục bát, hình thức thơ vừa thật dễ thuộc, vừa độc đáo Việt nhất. Nó thường chỉ gồm một cặp đôi câu, vừa ngắn gọn vừa theo đúng tục "cặp đôi" của người Việt (vuông-tròn, nước-non, sáu-tám ...). Nhưng sự trạng cái chất thuần Việt-nôm na làm nền cho cái dạng sứt mẻ-láu cá có tôn thêm tính triệt để phi chính thống của thơ Bút Tre hay không, câu hỏi này chỉ có thể được trả lời nếu ta cũng đồng thời xác định được 'chất và dạng' của cái chính thống mà trong khung cảnh 'của nó' thơ Bút Tre đã nảy sinh. Thư mục: - Hà Sĩ Phu 1993: Ðôi điều suy nghĩ của một công dân, Tin, Paris. - Hà Sĩ Phu 1995: Chia tay ý thức hệ, Tin, Paris. - Nguyễn Thế Việt 1996a: Vai trò của khuynh hướng tư tưởng phi chính thống và vấn đề dân chủ hóa xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tia Sáng 29, tr. 11-15. - Nguyễn Thế Việt 1996b: Sự kết thúc lịch sử vai trò chính thống của một ý thức hệ, Tia Sáng 29, tr. 16-20. - Vũ Hoằng Dương 1995: Nước non, non nước... (phần 2), Cánh Én 47, tr. 2-4. r |
![]() |
| Công Cụ | |
| Xếp Bài | |